Quyền lực bằng mọi giá: Chuyện đời thật của Giang Trạch Dân
– Chương 6 – Phần 2
Tác giả: Epoch Times | Dịch giả: Daniel Nguyen
4. Cơn ác mộng khi cộng sản Liên Xô sụp đổ
Tháng 6 năm 1991, Đặng Tiểu Bình lại sử dụng những thân tín
trước kia dưới trướng Triệu Tử Dương là Hồ Khởi Lập, Diêm Minh Phục và Nhuế Hạnh
Văn. Hồ Khởi Lập nhậm chức Thứ trưởng Bộ Công nghiệp Cơ giới Điện tử, là Ủy
viên Đảng Ủy của Bộ này, Nhuế Hạnh Văn nhậm chức Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch
Quốc gia, Diêm Minh Phục nhậm chức Thứ trưởng Dân chính. Đây là bước đệm được Đặng
Tiểu Bình thiết lập để mở đường cho Triệu Tử Dương “tái xuất giang hồ”.
Mấy tháng sau, cuối năm 1991, Đảng Cộng sản Liên xô với vẻ
ngoài hùng cường mạnh mẽ đã sụp đổ trong vòng mấy ngày, khiến cho thế cục trên
toàn thế giới phát sinh một biến đổi trọng đại. Sự giải thể của cộng sản Liên
Xô là một đòn nặng đối với Cộng sản Trung Quốc, đánh thẳng vào niềm tín tâm
kiên trung của ĐCSTQ, khiến cho giới lãnh đạo cấp cao phải nơm nớp lo sợ khi
nhìn thấy “ông anh cả” Liên Xô cũng có ngày sụp đổ. ĐCSTQ trước kia cũng từng
nói qua một câu “Liên Xô hôm nay cũng chính là chúng ta ngày mai”, nếu hôm nay
Liên Xô đã sụp đổ rồi, thì ĐCSTQ không thể không nghĩ đến chuyện hậu sự trong
tương lai.
ĐCSTQ thường luôn nói “chủ nghĩa đế quốc Mỹ” và tất cả trường
phái đối lập với mình đều là những con cọp giấy, nhưng khi nhìn thấy sự giải thể
của Liên Xô và thế cục ở đông Âu, ĐSCTQ nhận ra rằng đảng cộng sản mới là con cọp
giấy chính hiệu. Tất cả mọi chế độ độc tài lúc sụp đổ đều tan đàn xẻ nghé.
Đương thời, ngoài sự sụp đổ của Liên Xô ra, bức tường Berlin cũng bị đạp đổ,
Công đoàn Đoàn kết Ba Lan giành thắng lợi, Tiệp Khắc nổ ra cuộc Cách mạng Nhung
tại Slovakia, Hungaria chuyển sang dân chủ, nhà độc tài Ceausescu của Romania bị
xử tử, Bulgaria hoàn thành đợt tổng tuyển cử đầu tiên trên toàn quốc… thế giới
cộng sản tan tành như ngói vỡ. Có một cách nói giàu hình tượng như thế này, để
lật đổ nền chấp chính của chính quyền đảng cộng sản, ở Ba Lan phải mất 10 năm,
Hungaria mất 10 tháng, dân chủ Đức mất 10 tuần, Tiệp Khắc mất 10 ngày, Romania
mất 10 tiếng. Chính quyền cộng sản liên tiếp đổ vỡ, khiến Giang Trạch Dân tựa
như đang ngồi trên đống lửa, tâm tình bất an tột độ.
Ngày 1 tháng 7 năm 1991, trong một lần phát biểu tại buổi lễ
kỷ niệm 70 năm thành lập Đảng, Giang đã vứt bỏ con đường “xây dựng kinh tế làm
trung tâm” của Đặng Tiểu Bình, nỗ lực cổ xúy “lấy chống diễn biến hòa bình làm
trung tâm”, siết chặt hơn nữa sự khống chế trên hình thái ý thức, vả lại còn nhấn
mạnh: “cần phải vạch rõ giới tuyến giữa hai dạng quan điểm về cải cách, tức là
dạng cải cách mở cửa kiên trì với bốn nguyên tắc [1] và dạng cải cách mở cửa
theo kiểu đẩy mạnh chủ nghĩa tư bản bằng chủ trương tự do hóa giai cấp tư sản.”
Giang Trạch Dân thậm chí còn lên giọng lý luận “trong cải cách mở cửa cũng có tồn
tại sự đấu tranh”, trực tiếp đem mũi giáo phê bình chĩa về phía “Hoàng Phủ
Bình” của Thượng Hải, tức cũng là chĩa về Chu Dung Cơ và người ủng hộ ông ta –
Đặng Tiểu Bình. Những phát biểu mang tính phản đối cải cách mở cửa của Giang đã
nhận được tràng pháo tay râm ran của các thành viên cánh tả. Ngay hôm sau, Phó
Tổng lý Chu Dung Cơ – người phải chịu hàng trăm “hòn tên mũi đạn” đã phải chạy
đến Hồ Bắc để khảo sát điều tra về tình hình mưa lũ, còn Giang thì vẫn đang bận
rộn chạy tới chạy lui ở Bắc Kinh để xúi giục những người cánh tả chỉ trích ông
Chu Dung Cơ.
Thực chất vấn đề mà Giang không thể nhìn thấy, đó là dưới sự
khống chế cao độ của nền chính trị ĐCSTQ, sự lạc hậu về kinh tế trong xã hội hiện
đại của Trung Quốc đã bị đẩy vào ngõ chết, đã vậy lại còn quy vấn đề này về
phía cải cách mở cửa, muốn tiếp tục đi về cánh tả, thực chất là một tư duy lỗi
thời.
Tác giả Kuhn trong khi viết sách về Giang, đã ra sức tô vẽ
những cống hiến của Giang trong công cuộc cải cách, trên thực chất, “công lao”
của Giang cũng chỉ mọc từ đằng miệng, bởi vì ngay từ lúc đầu, Giang Trạch Dân
là cực kỳ bảo thủ, căn bản không tán thành con đường cải cách. Chẳng qua Giang
chỉ biết chơi trò xuôi buồm theo gió rồi làm ra vẻ vờ vịt, chính những điều này
đã lừa không biết bao nhiêu người không am hiểu nội tình, đặc biệt là người nước
ngoài.
Mặc dầu tình thế đẩy đưa khiến Giang cũng phải làm ra vẻ ủng
hộ cải cách, nhưng thực ra việc khống chế ý thức tư tưởng mới là tư duy chính
sách của Giang trong một thời gian dài. Giang Trạch Dân có một cái nhìn thù hận
cực đoan với tự do tư tưởng, chỉ trích các nhân sĩ bất đồng chính kiến là không
yêu nước. Giang cũng từng nói với Kuhn rằng: “Tôi chẳng biết dòng máu những người
đó (nhân sĩ bất đồng chính kiến) có phải là của dân tộc Trung Hoa hay không?”.
Quả là hoang đường, người lo lắng cho dân cho nước thì không phải là yêu nước,
chả lẽ một tên Hán gian bán đất đai tổ tiên cho Nhật – Nga như Giang mới là yêu
nước chăng?
5. Lấy lòng Lý Bằng và quân đội
Trong mấy năm đầu, địa vị của Giang trong nội bộ Đảng là mười
phần bất ổn. Bản thân Giang không chỉ phải đón nhận áp lực từ phía hai cánh tả
– hữu, mà còn phải đối mặt với làn sóng bất mãn của dư luận kể từ sau cuộc đàn
áp mang tên Lục Tứ. Trong thời gian đó, Trung Quốc đã bị đóng băng về phương diện
ngoại giao, rất nhiều quốc gia sau sự kiện Lục Tứ đã chiêu hồi Đại sứ quán trở
về trong một quãng thời gian, sự cấm vận thương mại và vũ khí là một đòn đánh
khá nặng đối với Trung Quốc.
Trước Lục Tứ, Lý Bằng chính là cấp trên trực tiếp của Giang
Trạch Dân, đến nay thì đã trở thành thuộc cấp của Giang, cả hai người lúc gặp mặt
vẫn có chút e dè. Giang Trạch Dân trong mỗi lần họp Bộ Chính trị đều được ngồi
ngang hàng với Lý Bằng, cùng nhau chủ trì hội nghị, Giang Trạch Dân thường thường
vẫn phải nhìn sắc mặt của Lý Bằng mà hành sự, người ngoài vẫn gọi đó là “thể chế
Giang – Lý”. Vì để củng cố địa vị bản thân trong nội bộ đảng, Giang bất đắc dĩ
phải lấy lòng Lý bằng – một người xuất thân là Tổng lý Cục Thủy lợi. Lần thị
sát hiện trường đầu tiên, Giang đã chọn “công trình Tam Hiệp” – một công trình
tâm đắc của Lý Bằng, đồng thời tích cực đốc thúc nhân lực để ép Đại Hội Đại biểu
Nhân dân Toàn quốc thông qua dự án này.
Dạng lấy lòng này quả thật là mười phần lộ liễu. Đảng Cộng sản
và Giang Trạch Dân vẫn luôn mồm nói chuyện khoa học, nhưng lần này lại đem những
chuyên gia quyền uy nhất vứt qua một phía, bất chấp hàng loạt vấn đề phát sinh
sẽ ảnh hưởng đến giao thông, điện, di dân, sinh thái, môi trường, chiến lược.
Giang để một vài người chẳng hiểu biết gì về khoa học thủy lợi, bao gồm cả ngôi
sao văn nghệ, anh hùng lao động và cả đại biểu dân tộc thiểu số quyết định số
phận của một công trình có can hệ đến quốc kế dân sinh, bên ngoài nhìn vào, quả
thực cảm thấy đó là một chuyện tức cười không nhịn nổi. Giang Trạch Dân làm như
thế chỉ có dụng ý là lấy lòng Lý Bằng.
Giang Trạch Dân vốn vô đức vô năng, lại không có chút hiểu
biết gì về quân sự đã được ngồi lên ghế Chủ tịch Quân ủy vào tháng 11 năm 1989,
mà những lão tướng trong quân đội há có thể chịu nghe lời chỉ huy từ một kẻ
chưa từng sờ đến cây súng? Giang Trạch Dân lúc đó vẫn chưa dám xuống lệnh phong
mấy hàm thượng tướng như Đặng Tiểu Bình đã từng làm, trong quân đội Giang không
có một “binh mã” nào, cho nên, ngoài việc chi hàng đống tiền để mua vũ khí của
Liên Xô ra, Giang bỗng dưng nhớ lại những chiêu thức tuyên truyền được ông lão
thân sinh Hán gian truyền lại. Giang chỉ thị quay mấy bộ phim ca tụng Giải
phóng quân, một mặt là để vuốt ve thành phần quân đội, một mặt là để tẩy sạch sự
thống hận Giải phóng quân vẫn hiển hiện trong đầu óc của bá tính sau sự kiện “Lục
Tứ”. Giang Trạch Dân còn tự mình đặt tên cho một vài bộ phim, bao gồm cả bộ
phim hao tiền tốn của gồm 3 tập mang tên “Đại quyết chiến”.
Trong suốt quá trình quay phim, Giang Trạch Dân đã có được một
sự thu hoạch ngoài mong đợi. Lúc đó có một đạo diễn họ Lý đang quay bộ phim
“Khai quốc đại điển”. Tạo hình nhân vật Tưởng Giới Thạch trong bộ phim không giống
với bộ mặt mà điện ảnh cộng sản vẫn luôn tuyên truyền, hơn nữa hình tượng Tưởng
Giới Thạch trong phim này lại được khắc họa như một con người bằng xương bằng
thịt. Người phụ trách kiểm duyệt phim không cho bộ phim công chiếu, đồng thời
yêu cầu đạo diễn miêu tả nhân vật này là một con người vừa ngu xuẩn vừa tàn bạo,
đạo diễn đã cự tuyệt.
Lý Thụy Hoàn, một người có đầu óc cởi mở, đã nghe được việc
này, liền mời Giang Trạch Dân cùng mình đi xem thử bộ phim này. Trong đó có một
vài cảnh quay khiến Giang Trạch Dân tò mò vô cùng, bởi vì xem ra thì giống như
những đoạn phim tư liệu thực tế rất quý giá. Giang Trạch Dân hỏi đạo diễn họ Lý
rằng mấy cảnh ấy tìm được ở đâu vậy? Đạo diễn nói rằng đó không phải là tìm được,
mà là mới quay, thông qua xử lý kỹ thuật nhìn giống như là phim tài liệu. Giang
Trạch Dân mười phần mãn ý, Giang cuối cùng cũng đã xem xong bộ phim và cho lời
tổng kết: “Thật giả nhào nặn lại với nhau, tôi cũng bị lừa rồi”.
Cái thủ pháp đó sử dụng trong điện ảnh cũng là điều bình thường,
nhưng Giang Trạch Dân đã nghĩ ra được một chiêu mới có thể sử dụng trong công
tác tuyên truyền. Trong chương 17, quý độc giả sẽ được chứng cao chiêu lừa đảo
của Giang như thế nào.
6. Cuộc phản kích của Đặng Tiểu Bình
Vào ngày 31 tháng 8 năm 1991, tờ Nhân dân Nhật báo đã cho
đăng bài viết của tác giả “Hoàng Phủ Bình” mang tên “Luận về tinh thần và thái
độ của cán bộ”, bài viết đề xuất: dao động tinh thần là điều đáng sợ nhất, cán
bộ tất phải có tư tưởng cởi mở. Ngày 1 tháng 9, Đài phát thanh Trung ương đã
cho phát đi một bài xã luận mang tên “Tất cả vì cải cách mở cửa” do Phó tổng
biên tập Nhân Dân nhật báo và một biên tập viên cấp cao thuộc Cục Lý luận cùng
nhau khởi thảo, với mục đích chống đối Đặng Tiểu Bình. Sau khi được Lý Thụy
Hoàn – người chủ quản về hình thái ý thức của trung ương đảng duyệt qua một lượt,
trưởng tòa soạn của Nhân dân Nhật báo Cao Địch lại cố ý thêm vào một đoạn “Đối
với cuộc cải cách mở cửa cần phải đặt ra câu hỏi về tính chất sâu xa của ‘xã’
(xã hội) và ‘tư’ (tư bản)”, tiến hành một cuộc phê phán toàn diện hơn, cao cấp
hơn đối với “Hoàng Phủ Bình”. Theo chỉ thị của Đặng Tiểu Bình, Lý Thụy Hoàn đã
cắt nội dung này của Cao Địch, nhưng chỉ trước khi bài báo này được phát hành
có một ngày. Do vậy Đặng Tiểu Bình đã hậm hực nói thẳng: “Nhân Dân nhật báo muốn
phê phán Đặng Tiểu Bình này một cách toàn diện”. Điều này đã khiến cho Đặng
không còn tín nhiệm Giang chút nào nữa [2].
Vào cuối năm 1991, Đặng Tiểu Bình đã bị chọc giận vì những
hành động của Giang Trạch Dân, thái độ của Đặng không những đã hoàn toàn mất
tin tưởng vào “hạt nhân lãnh đạo đời thứ 3”, mà còn bị đẩy đến mức không còn chịu
đựng được nữa. Đặng Tiểu Bình trên danh nghĩa có vẻ như không có bất cứ chức vị
nào, nhưng vẫn khống chế quân đội trong tay: quân đội đương thời đang nằm dưới
sự quản lý của một bằng hữu thân tín của Đặng là Dương Thượng Côn và cấp dưới
Dương Bạch Băng. Dương Thượng Côn và Đặng Tiểu Bình quen biết nhau từ năm 1932,
là bạn bè thân thiết những 60 năm. Cái lon Thượng tướng của Dương Bạch Băng là
do chính tay Đặng Tiểu Bình gắn cho vào tháng 9 năm 1988, ông tướng này vẫn một
mực trung thành chấp hành con đường chính trị của ông Đặng. Một trong hai Phó
Chủ tịch Quân ủy là Lưu Hoa Thanh cũng là bộ hạ cũ của ông Đặng, vẫn luôn “sắc
son một lòng” với Đặng.
Đặng Tiểu Bình đã nhìn thấy: tầm thường, nhu nhược, vô năng,
đố kỵ, tư tưởng bảo thủ, ngoan cố,… cái gì cũng đều hội đủ trong “hạt nhân lãnh
đạo đời thứ 3” Giang Trạch Dân, vả lại “hạt nhân lãnh đạo” này cũng đang bày vẽ
mưu chước để cản trở cuộc cải cách mở cửa. Cho nên, lần này ông Đặng đã hạ quyết
tâm lợi dụng quân quyền nắm trong tay mà đánh một canh bạc cuối cùng, chuẩn bị
vào đại hội thứ 14 sẽ “quét dọn” Tổng bí thư Giang Trạch Dân cùng những thành
phần phản đối cải cách, dọn chỗ cho những người kiên trung chấp hành đường hướng
mở cửa bước lên. Ông Đặng Tiểu Bình đã trù tính để Kiều Thạch lên thay Giang Trạch
Dân ngồi ở ghế Tổng Bí thư, đồng thời vào Đại hội Đại biểu Nhân dân lần thứ 8 sẽ
để Kiều nhậm chức chủ tịch nước, Chủ tịch Quân ủy; Lý Thụy Hoàn hoặc Chu Dung
Cơ sẽ thay thế Lý Bằng nhậm chức Tổng lý Quốc vụ viện, Vạn Lý tiếp tục ngồi ở
ghế Trưởng Ủy ban Hội đồng Nhân dân Toàn quốc; Đặng cũng trù định để Dương Thượng
Côn từ chức chủ tịch nước, triệt để giải tán cái đám Ủy ban Cố vấn Trung ương Đảng
đầu óc ngoan cố do Trần Vân bồng bế.
Đặng Tiểu Bình đem cái phương án này đi trưng cầu ý kiến của
Dương Thượng Côn, Vạn Lý. Đồng thời, vì để biểu thị ủng hộ Kiều Thạch, tất cả
những phát ngôn của ông ta về Kiều Thạch đâu đâu cũng là khẳng định. Điều này
khiến cho Giang ganh tức không thôi, xem Kiều Thạch như là kẻ oan gia ngõ hẹp,
sau này khi Đặng Tiểu Bình qua đời, Giang cuối cùng lại lấy cớ “tuổi đời có hạn”
để bức ông Kiều Thạch – một người trẻ tuổi hơn Giang phải xuống đài, việc này
xin đợi hạ hồi phân giải.
Đặng Tiểu Bình còn nghĩ đến Triệu Tử Dương – vốn bị giam lỏng
sau sự kiện Lục Tứ, Đặng muốn để ông ta đảm nhiệm chức Chủ tịch Chính Hiệp. Ông
Đặng chưa bao giờ hoài nghi về thái độ kiên trung cách mạng của Triệu Tử Dương,
mấu chốt ở chỗ, Lục Tứ chính là cơn tâm bệnh trầm trọng nhất của họ Đặng lúc tuổi
đã xế chiều, mà đối với vấn đề Lục Tứ này Triệu Tử Dương có thái độ kiên quyết
không chấp nhận “tự phê”, điều này vẫn khiến cho Đặng Tiểu Bình vô cùng phiền uất.
Đặng Tiểu Bình đã phái người đến chuyển lời cho Triệu Tử Dương, yêu cầu Triệu
trước khi bước ra làm việc thì nên “tự phê” một chút về “sai lầm cá nhân” trong
sự kiện Lục Tứ, nhưng ông Triệu vẫn một mực cho rằng mình không làm gì sai,
không viết kiểm điểm. Triệu Tử Dương nói: “Vì sao tôi ra đi mà không làm kiểm
điểm? Bởi vì đó là lựa chọn của tôi…. Tôi cảm thấy bản thân không có gì sai, hà
cớ gì kiểm điểm? Hễ kiểm điểm là không thể nói rõ chân tướng sự thật”. Nghe
xong lời báo cáo, trong thâm tâm Đặng Tiểu Bình có rất nhiều dư vị xốn xang khó
tả, rất khó thốt nên lời.
Chú thích:
[1] Bốn nguyên tắc được Đặng Tiểu Bình lập ra năm 1979 là những
nguyên tắc bất di bất dịch của ĐCSTQ: 1. kiên định với con đường xã hội chủ
nghĩa, 2. kiên định với chuyên chính dân chủ nhân dân, 3. kiên định với sự lãnh
đạo của ĐCSTQ, 4. kiên định với tư tưởng Mác-Lênin-Mao Trạch Đông.
[2] Nhân dân Nhật báo luôn được ngấm ngầm điều khiển bởi Tổng
bí thư, lúc đó là Giang Trạch Dân.
Nguồn: http://vietdaikynguyen.com

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét