Tình trạng kinh tế giảm tốc độ ở Trung Quốc hiện nay thường
được đem so sánh với kinh tế Nhật Bản vào thập niên 1990. Chính giới lãnh đạo Cộng
Sản Trung Quốc đã nói đến tấm gương sa lầy của kinh tế Nhật để bảo nhau cần phải
tránh. Nhưng nỗi khó khăn ở nước Tàu hiện nay rất khác với hoàn cảnh nước Nhật
trước đây một phần tư thế kỷ và sẽ đưa tới những khó khăn trầm trọng hơn.
Trung Quốc phát triển mạnh trong ba chục năm qua, nhưng cũng
không khác gì “phép lạ kinh tế” đã diễn ra tại Nhật Bản và Nam Hàn trước đó. Cả
ba nước đều bốc lên nhờ chính sách mở mang công nghiệp hướng vào hàng xuất cảng
ngay từ đầu, tiết kiệm và đầu tư thật nhiều để duy trì tốc độ phát triển cao.
Và cuối cùng cả ba đều phải giảm bớt tốc độ đầu tư cũng như xuất khẩu để cân bằng
kinh tế.
Tỷ lệ tăng trưởng trung bình của kinh tế Trung Quốc là 9%
trong ba chục năm từ 1980 đến 2015, so với Nhật là 8.6% trong thập niên 1960,
70; Ðại Hàn Dân Quốc là 7 tới 8% trong thời gian 1970-80. Sau đó, Nhật và Nam
Hàn tụt dần xuống mức 3-4%, còn Trung Quốc hiện đang cố giữ tỷ lệ 6-7%.
Sức phát triển kinh tế dựa trên việc gia tăng tiền đầu tư,
gia tăng lực lượng lao động. Khi hai yếu tố đó không còn tăng thêm được nữa thì
tốc độ sẽ giảm, muốn tiến thêm phải gia tăng năng suất của người lao động.
Kinh tế cả ba nước trên đều bắt đầu giảm tốc khi lợi tức
bình quân lên tới mức 8,000 mỹ kim một năm. Ðó là lúc những lợi thế lúc đầu biến
mất; lương lao động không còn thấp mãi trong khi nền công nghiệp đã vận dụng lợi
thế đó đến mức tối đa, mức lời trên những đồng tiền đầu tư giảm dần đến chỗ đứng
yên. Trong tình trạng đó, mô hình phát triển phải thay đổi, mức đầu tư giảm bớt
và phải gia tăng năng suất lao động. Muốn vậy, phải dựa vào kỹ thuật tân tiến,
lầy cạnh tranh thúc đẩy sáng kiến, canh tân. Các ngành canh nông và công nghiệp
cũ không thể tăng năng suất nhanh nữa, nay cần phải hướng về những ngành sản xuất
có giá trị gia tăng cao hơn, phát triển các ngành dịch vụ và thúc đẩy thị trường
nội địa. Các nước Nam Hàn và Nhật Bản đã đi qua con đường đó.
Con đường dẫn tới khủng hoảng ở Trung Quốc cũng theo đúng những
gì xảy ra ở Nhật trong thập niên 1980, khi tiền bạc được đổ vào thị trường, thổi
giá trị cổ phần và nhà cửa lên cao. Khi trái bong bóng xì hơi ở Nhật đầu thập
niên 1990, cả nền tài chánh mang họa vì những món nợ khổng lồ không trả được,
khủng hoảng thị trường địa ốc và chứng khoán lan tới các ngân hàng và xí nghiệp.
Năm 1997 Nam Hàn cũng lâm cùng hoàn cảnh đó nhưng đã thoát sớm hơn. Ðến nay nước
Nhật vẫn còn bị sa lầy vì cải tổ cơ cấu chậm chạp.
Các món nợ ở Trung Quốc cũng gia tăng nhanh, từ 150% của tổng
sản lượng nội địa năm 2008 đã lên tới 255% năm nay. Giới lãnh đạo Cộng Sản
Trung Hoa đang chủ trương cải tổ cơ cấu, giảm bớt vai trò của các doanh nghiệp
nhà nước, cải tổ ngân hàng và khuyến khích tiêu thụ. Cuộc cải tổ ở Nhật Bản bị
trì hoãn hơn 20 năm qua vì sức đề kháng do những nhóm quyền lợi riêng, thuộc giới
doanh nghiệp, ngân hàng, hàng ngũ công chức với các nhóm quyền lợi riêng. Trung
Quốc cũng đang gặp các chướng ngại giống hệt. Nhưng liệu Trung Quốc có thể rút
kinh nghiệm Nhật Bản để tránh các vết xe đổ của họ hay không?
Trung Quốc sẽ gặp nhiều chướng ngại hơn Nhật Bản vào thập
niên 1990, vì còn thua kém quá xa trên nhiều lãnh vực.
Ngay từ sau khi thất trận năm 1945, các công ty Nhật đã cạnh
tranh với nhau và trên thị trường thế giới bằng cách chú trọng vào phẩm chất và
cải thiện phương pháp làm việc. Khi bước vào thời khủng hoảng, hàng hóa Nhật đã
tràn ngập thế giới với những chiếc xe Toyota, Honda hay hàng tiêu thụ mang nhãn
hiệu Sony, Panasonic và Nikon. Cho tới nay, công nghiệp Trung Quốc chưa trình
diện thị trường quốc tế một sản phẩm nào được ưa chuộng và đáng tin cậy như vậy.
Trong thập niên 1980 bao nhiêu nhà kinh doanh Mỹ và Châu Âu đi tìm hiểu để học
hỏi phương pháp quản trị Nhật Bản. Kinh tế Trung Quốc tới nay vẫn chưa có gì để
người ngoài bắt chước. Ngược lại, chính Thủ Tướng Lý Khắc Trường mới than phiền
cảnh dân giàu có ở Trung Quốc kéo nhau qua Nhật mua từ nồi cơm điện (tránh mua
hàng mang nhãn hiệu Nhật làm giả mạo trong nước) đến sữa bột (sợ sữa trong nước
có chất độc) và cái bàn ngồi trong cầu tiêu.
Khi lâm vào cảnh khủng hoảng thời 1990, nước Nhật đã sống
trong chế độ tự do dân chủ được 40 năm, người dân tin tưởng chính quyền và tin
lẫn nhau, cho nên đồng tâm chịu cảnh thiếu thốn hơn trước. Dân Trung Quốc hiện
đang sôi nổi tranh đấu đòi quyền sống làm người, chống cường hào ác bá cướp đất
cướp ruộng, mỗi năm hàng trăm ngàn cuộc biểu tình. Khi kinh tế Nhật giảm tốc, đời
sống của người dân đã khá giả không kém gì các nước Âu, Mỹ; trong khi người dân
Trung Quốc trung bình hiện nay vẫn còn sống thiếu tiện nghi, lợi tức bình quân
bằng một phần năm dân Nhật. Phải mất 20 năm nữa dân Trung Hoa mới theo kịp Nam
Hàn và 40 năm để bằng dân Nhật Bản.
Xã hội Nhật ổn định hơn. Lương bổng người lao động Nhật
không thua quá sa lương giới quản đốc đến mức khiến người ta ghen tị. Còn Trung
Quốc, dù người cầm quyền vẫn tự xưng là theo chủ nghĩa xã hội, hiện đang nhiều
tỷ phú đô la nhất thế giới, trong khi 200 triệu công nhân từ quê lên tỉnh vẫn sống
trong cảnh bấp bênh. Một vấn đề nan giải ở nước Tàu là lực lượng lao động đang
giảm sút, tỷ lệ gia tăng 1.5% trong 10 năm đầu thế kỷ 21 sẽ tụt xuống thành số
âm, bớt 0.1% mỗi năm trong thập niên 2010-2020.
Dân chúng Nhật cùng chịu đựng cảnh kinh tế suy yếu một cách
hòa bình nhờ xã hội có trật tự, đạo lý Khổng Mạnh vẫn được đề cao, mọi tầng lớp
cùng chia sẻ nỗi khó khăn với nhau. Hơn nữa, nếu người dân Nhật bất mãn, họ biết
có thể thay đổi những người cầm quyền bằng lá phiếu. Dân Trung Hoa nếu chịu cực
khổ, bất công, cũng không được phép nói ra nỗi bất bình!
Giới lãnh đạo đảng Cộng Sản Trung Quốc vẫn chưa nhất tâm về
con đường phải theo để thoát khỏi cơn khủng hoảng kinh tế trì trệ. Các cuộc
tranh giành quyền lực vẫn tiếp diễn trong bí mật trong hậu trường, mạnh được yếu
thua, trong một xã hội mà người có quyền chưa bao giờ có thói quen coi trọng luật
pháp.
Vì những nhóm quyền lợi ở Trung Quốc quá mạnh, việc cải tổ
cơ cấu không tiến được, nhiều lúc đi ngược chiều với nhau. Năm ngoái, nhà nước
hạ giá nhân dân tệ, gây ra hai cuộc khủng hoảng thị trường chứng khoán. Tuy đại
hội đảng trước đó đề cao việc nâng vai trò của thị trường thay thế cho nhà nước,
nhưng chính họ lại chữa chạy bằng cách ra lệnh không được bán cổ phần và đem
công quỹ ra mua cổ phiếu để bảo đảm giá không xuống nữa. Năm nay, báo Nhân Dân
đăng ý kiến của một “giới có thẩm quyền” kêu gọi phải ngưng việc bơm tiền cho
các xí nghiệp quốc doanh và những chính quyền địa phương, thì ngay sau đó chính
phủ loan báo sẽ chi thêm 5 ngàn tỷ đồng nguyên để các địa phương xây dựng hạ tầng
cơ sở. Chính phủ Mỹ muốn “kích thích kinh tế” với hàng ngàn tỷ Mỹ kim như vậy sẽ
bị quốc hội và dư luận báo chí đặt câu hỏi ngay. Hiện tượng này phơi bầy mối bất
đồng giữa lãnh tụ tối cao Tập Cận Bình với Thủ Tướng Lý Khắc Trường; cuối cùng
Tập Cận Bình đã tập trung thêm quyền lực.
Tuy giới lãnh đạo Trung Cộng luôn luôn nói đến việc chuyển từ
đầu tư và xuất cảng sang tiêu thụ nội địa, chuyển từ công nghiệp sản xuất nặng
sang hàng tiêu thụ và phát triển các dịch vụ, nhưng cuộc cải tổ đó vẫn chập chững
không tiến được. Trung Quốc vẫn sản xuất quá nhiều than, xi măng, nhôm và thép
trong lúc thị trường thế giới đang ứ đọng khiến các nước khác đều phản đối, đòi
trừng phạt tội bán phá giá. Những nhà máy thép, nhôm, xi măng của các doanh
nghiệp nhà nước thực ra càng sản xuất thêm nhiều thì càng thua lỗ, nhưng giới
lãnh đạo không có cách nào để chấm dứt cảnh đó.
Khi so sánh tình trạng kinh tế Trung Quốc hiện nay với tình
trạng Nhật Bản từ năm 1990, chúng ta thấy nước Tàu đang gặp khó khăn gấp bội so
với nước Nhật 25 năm trước. Vấn đề không phải chỉ là những món nợ trồng chất sẽ
gây khủng hoảng tài chánh, ngân hàng. Kinh tế Trung Hoa chưa đạt được tới địa vị
như kinh tế Nhật thời đó để có thể chịu đựng trong khi tìm các thoát được các
khó khăn. Dân Trung Hoa không được tự do, xã hội bất bình đẳng không hòa hợp
như xã hội Nhật. Trong khi đó giới lãnh đạo vẫn chỉ lo tranh giành quyền lực,
thiếu công khai minh bạch cho nên không thể tạo mối đồng tâm trong dân chúng
Trong tình trạng bế tắc như vậy, Bắc Kinh lại đang gây thù
nghịch khắp nơi với chính sách bành trướng lãnh thổ và hải phận, bất chấp luật
lệ quốc tế. Thái độ cứng đầu chống lại phán quyết của Tòa Trọng Tài Thường Trực
về Ðường Lưỡi Bò khiến Trung Cộng càng bị cô lập hơn. Nhưng đó cũng là con đường
giới lãnh đạo Cộng Sản Trung Quốc phải đi theo. Họ cần kích thích óc tự tôn Ðại
Hán, làm món ăn tinh thần của dân chúng thay thế cho chủ nghĩa Cộng Sản lỗi thời.
Và làm như vậy cũng để cho dân quên những khó khăn kinh tế đang tăng lên dần.
Nguồn: www.nguoi-viet.com
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét