Biên dịch: Đinh Nguyễn Lan Hương | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệ
Nguồn: Green, Michael
(2008). “Japan in Asia”, in David Shambaugh & Michael Yahuda (eds),
International Relations of Asia (Maryland: Rowman & Littlefield
Publishers), pp. 170-191.
***
Trong bài luận vào cuối
thời kỳ Tokugawa, Lý luận của ba kẻ say về Chính phủ, Nakae Chomin đã hình dung
ra một vị chủ nhà vào một buổi tối đã cùng hai người bạn rượu của mình tranh
cãi trong hơi men về tương lai của Nhật Bản ở châu Á. Một trong hai bạn rượu của
ông ta là một “quý ông Tây học”, ăn mặc theo phong cách phương Tây và ca tụng
những ưu điểm của dân chủ, quyền cá nhân và phát triển kinh tế. Người kia mặc
quần áo truyền thống của một samurai và bảo vệ cho chiến lược chính trị hiện thực
của việc bành trướng quân sự nhằm hất cẳng Trung Quốc và nước Anh địch thủ, trở
thành một thế lực đế quốc có sức ảnh hưởng lớn ở châu Á. Cuối cùng, vị chủ nhà
đã kết luận rằng Nhật Bản phải cân bằng cả hai, phải nắm lấy tri thức phương
Tây và phát triển kinh tế đồng thời mở rộng thế lực của Nhật Bản tại châu Á. Kết
luận này đã khiến người đọc ý thức sâu sắc về mâu thuẫn không giải quyết được
giữa hai tầm nhìn tương lai của Nhật Bản nổi lên trong giai đoạn xuất hiện những
Con tàu đen của Thuyền trưởng Perry và cải cách Minh Trị này.
Tìm kiếm chiến lược
Ít có quốc gia nào
trong lịch sử dằn vặt với sự ngờ vực chính chiến lược quốc gia của mình như Nhật
Bản. Càng có ít đất nước kiên định với lợi ích quốc gia hoặc ý thức sâu sắc về
các mối quan hệ quyền lực xung quanh họ như đất nước này. Đối với Nhật Bản, những
yếu tố giúp định hướng chiến lược quốc gia về cơ bản vẫn y hệt như thời kỳ Lý
luận của ba kẻ say về Chính phủ: theo đuổi quyền tự trị và vị thế được tôn trọng
trong hệ thống quốc tế dựa trên sự tính toán về sức mạnh địa chính trị của
Trung Quốc (cùng với Triều Tiên như là một chất xúc tác khác) và sự chung sống
với cấu trúc quyền lực quốc tế hiện hành.2 Mặc dù các yếu tố định hướng này đã
không đổi trong suốt lịch sử Nhật Bản hiện đại, các công cụ được sử dụng lại đa
dạng một cách đáng ngạc nhiên. Trên thực tế, Nhật Bản đã tự cách tân bản thân ở
những giai đoạn khác nhau trong lịch sử để tối đa hóa nguồn lực sức mạnh quốc
gia và quyền tự trị tương đối của mình phù hợp với bối cảnh hệ thống quốc tế
trong từng giai đoạn. Có lúc, Nhật Bản đã đi theo con đường của quý ông Tây học;
khi khác thì lại đi theo con đường của một quý ông truyền thống.
Vào cuối thế kỷ 19,
các nhà lãnh đạo thời Minh Trị đưa ra chiến lược dựa trên khẩu hiệu bốn chữ
fukukoku kyohei hay “phú quốc/cường binh”, vận dụng Tây học để xây dựng quốc
gia cường thịnh và từ đó tạo ra một lực lượng hải quân và quân đội hiện đại. Kết
quả thật đáng kinh ngạc, từ năm 1860 đến năm 1938, tỉ lệ GDP của Nhật Bản trong
GDP thế giới tăng từ mức chỉ 2,6% lên 3,8%; trong khi Nhật Bản đã khẳng định bản
thân mình là một đối thủ tranh giành sự thống trị một nửa thế giới.3 Việc đánh
bại Trung Quốc năm 1895 và Nga năm 1905 đã truyền sức mạnh cho các nhà dân tộc
chủ nghĩa trẻ và những người chống chủ nghĩa đế quốc trên toàn châu Á; và các
nhà chiến lược Nhật Bản đã phôi thai nên một chủ nghĩa Liên Á mang tính lý tưởng
chủ nghĩa dựa trên kinh nghiệm của chính Nhật Bản về wakon/yosai, hay còn gọi
là “tinh thần Nhật Bản và Tây học”. Chủ nghĩa lý tưởng Liên Á đó đã sớm nhường
chỗ cho một trật tự đế quốc chủ nghĩa xấu xí hơn gấp nhiều lần mà cơ sở là hệ
thống thứ bậc truyền thống của châu Á cùng một sự kết hợp đầy nguy hiểm giữa
tâm lý mất an ninh chống lại phương Tây cộng với sự áp bức dựa trên sức mạnh ưu
việt chống lại các quốc gia phương Đông. Nhật Bản cũng đã mắc sai lầm khi liên
minh với Đức Quốc xã khi nhầm lẫn về các xu thế trong cấu trúc quyền lực thế giới.
Kết quả là một thảm họa cho cả Nhật Bản lẫn châu Á.
Sau chiến tranh, Nhật
Bản buộc phải thích nghi với cấu trúc quyền lực thế giới mới dưới sự ảnh hưởng
của đế quốc Mỹ và sắp xếp lại các thể chế của mình để tối đa hóa sức mạnh và
quyền tự trị của Nhật Bản trong bối cảnh mới. Dưới sự cai trị đầy khéo léo của
Thủ tướng Yoshida Shigeru, Nhật Bản đã tiếp nhận các thể chế dân chủ và thiết lập
quan hệ liên minh với Mỹ, đồng thời đảm bảo rằng Điều 9 Hiến pháp về chủ nghĩa
hòa bình được thể chế hóa trong luật pháp và chính sách quốc gia nhằm không rơi
vào cái bẫy chiến lược Chiến tranh lạnh của Mỹ. Nhật Bản chỉ xây dựng quốc
phòng ở mức tối thiểu để duy trì cam kết quân sự với Mỹ đồng thời tập trung vào
việc khôi phục kinh tế và theo đuổi mối quan hệ mới với châu Á – bao gồm cả
Trung Quốc – dựa trên thương mại.
Vào giai đoạn cuối của
Chiến tranh Lạnh, nhiều nhà chiến lược Nhật Bản bắt đầu tranh luận rằng mô hình
mới về phát triển kinh tế của Nhật Bản đã vượt qua chủ nghĩa tư bản truyền thống
và sẽ đưa Nhật Bản vào vị trí của một chủ thể có sức ảnh hưởng lớn trong thế kỷ
21, tự do theo đuổi các chính sách đối ngoại “độc lập” và định hình một trật tự
kinh tế châu Á mới mà không có các công cụ quân sự truyền thống, đồng thời liên
minh với siêu cường độc nhất trên thế giới nhưng không phụ thuộc vào nó. Tuy
nhiên, viễn cảnh này đã bị phá vỡ vào những năm 1990 khi Nhật Bản lặng im không
hành động trong suốt Chiến tranh Vùng Vịnh, đánh mất mô hình kinh tế khả tín
sau sự sụp đổ của nền kinh tế bong bóng, không thể tận dụng sự phục thuộc lẫn
nhau về kinh tế nhằm định hình sự phát triển nhanh chóng của Trung Quốc về quân
sự và chiến lược, và bị đe dọa bởi một Bắc Triều Tiên theo đuổi phát triển vũ
khí hạt nhân. Sau gần một thập kỷ dao động và không chắc chắn, Nhật Bản bắt đầu
lấy lại niềm tin với Thủ tướng Koizumi Junichiro (2001-2006) và thu hút sự chú
ý của thế giới với một sự quyết đoán mới về an ninh quốc tế và nới lỏng những
ràng buộc hậu chiến truyền thống liên quan đến Điều 9 Hiến pháp. Nhưng sau đó,
chiến lược quốc gia của Nhật dường như lại tiếp tục trở nên thiếu rõ ràng khi
người kế nhiệm Koizumi, Abe Shinzo, đã vướng phải những vấp váp chính trị vào
năm 2007.
Việc tìm kiếm chiến
lược của Nhật Bản đã làm phức tạp và phong phú thêm các thuyết về quan hệ quốc
tế. Những người theo chủ nghĩa hiện thực cấu trúc truyền thống như Henry
Kissinger và Herman Kahn đã lập luận rằng không thể tưởng tượng được Nhật Bản lại
có thể phát triển sức mạnh kinh tế mà không thiết lập sức mạnh quân sự bao gồm
cả vũ khí hạt nhân tương xứng.4 Những người theo chủ nghĩa kiến tạo như Peter
Katzenstein đã phát triển những lý thuyết có thể khái quát hóa được xung quanh
ví dụ về Nhật Bản bằng cách cho rằng văn hóa chính trị Nhật Bản thực sự đã thay
đổi do chủ nghĩa hòa bình được củng cố thông qua các chuẩn tắc hậu chiến và các
thể chế dựa trên Điều 9 Hiến pháp.5 Các thuyết xét lại của ngành kinh tế chính
trị quốc tế đã nở rộ trong những năm 1980 và đầu những năm 1990 với ý tưởng rằng
trên thực tế Nhật Bản đã xây dựng một mô hình mới về tăng trưởng kinh tế theo
hướng pha trộn công nghệ và chủ nghĩa dân tộc cùng các mạng lưới sản xuất ở
châu Á.6 Richard Samuels và Eric Heginbotham đã quay trở lại với các thuyết hiện
thực về quan hệ quốc tế để cho rằng hành vi của Nhật Bản là theo chủ nghĩa hiện
thực, nhưng dựa trên tư tưởng chủ nghĩa hiện thực “trọng thương” mới hơn là các
khái niệm lấy sức mạnh quân sự làm trọng tâm truyền thống của thuyết tân hiện
thực hay các biến thể khác gần đây của lý thuyết kinh tế.7 Tôi đã lập luận
trong bài Japan’s Reluctant Realism [Chủ nghĩa hiện thực miễn cưỡng của Nhật Bản]
năm 2001 rằng văn hóa chiến lược của Nhật Bản đang chuyển từ chủ nghĩa hòa bình
truyền thống và bị động sang hành vi cân bằng quyền lực rõ ràng hơn nhằm ứng
phó với sự gia tăng những đe dọa từ bên ngoài cũng như thất bại của các công cụ
kinh tế truyền thống trong việc giúp nước này tăng cường an ninh.8 Trong nghiên
cứu quan trọng về lịch sử và sự hồi sinh của tư tưởng chiến lược Nhật Bản,
Kenneth Pyle đã đưa ra luận điểm rất thuyết phục vào năm 2007 rằng Nhật Bản
luôn luôn theo chủ nghĩa hiện thực và đang ngược lại quá khứ theo nhiều khía cạnh
bởi nó đang muốn đòi lại quyền lợi của mình ở châu Á.9
Điều nổi lên từ các
nghiên cứu khác nhau về tư tưởng chiến lược Nhật Bản là quá trình rõ ràng trong
việc thử nghiệm và khám phá những công cụ cho phép Nhật Bản tối đa hóa quyền tự
trị và quyền lực theo hai yếu tố định hướng được nêu trước đó: tính toán sức mạnh
địa chính trị của Trung Quốc (và Triều Tiên) và sự chung sống với cấu trúc quyền
lực quốc tế hiện hành. Nhưng các thể chế và chuẩn tắc của Nhật vẫn cứng nhắc và
không linh hoạt, gây khó khăn cho việc tìm kiếm một chiến lược mới ngay cả khi
các nhà lãnh đạo Nhật Bản nỗ lực một lần nữa để sắp xếp lại bộ công cụ của mình
khi mà bối cảnh địa chính trị châu Á đang bước vào một giai đoạn bất ổn.
Phần còn lại của
chương này sẽ nói rõ hơn về bộ công cụ đó, đánh giá những gì đã hoặc không có
hiệu quả đối với Nhật Bản trong bối cảnh châu Á ngày nay và những yếu tố nào có
khả năng là tiêu biểu nhất cho chiến lược của Nhật Bản trong những năm tiếp
theo.
Chương này được chia thành năm phần. Phần một bắt đầu với việc xem xét những công cụ được coi là hứa hẹn nhất cho tới cách đây một thập kỷ – mối quan hệ gần gũi với Trung Quốc và vai trò lãnh đạo về kinh tế trong việc mang lại một trật tự mới cho khu vực – và cách thất bại trong những lĩnh vực này đã thay đổi chiến lược của Nhật Bản và việc sử dụng những công cụ đó ngày nay như thế nào.
Phần hai sẽ xem xét sự quay trở lại của Nhật Bản với trọng tâm chiến lược của nó ở châu Á: liên minh với Mỹ, các cơ hội và sự phức tạp mà liên minh này mang lại. Phần thứ ba khảo sát chiến lược cân bằng của Nhật Bản ở châu Á trong ba lĩnh vực. Phần thứ tư đánh giá chiến lược của Nhật Bản trong việc định hình sự hội nhập và xây dựng thể chế ở khu vực. Phần thứ năm xem xét lại những vấn đề lịch sử để lại, tại sao giới lãnh đạo Nhật Bản lại gặp khó khăn trong việc giải quyết chúng, và đâu là những lĩnh vực mà những vấn đề đó làm hoặc không làm phương hại ảnh hưởng của Nhật Bản. Cuối cùng, chương này sẽ kết thúc với việc xem xét lại những biến số có thể khiến Nhật Bản đi theo một hướng khác bằng một bộ công cụ hoàn toàn khác so với bộ công cụ đã được xem xét ở đây.
Chương này được chia thành năm phần. Phần một bắt đầu với việc xem xét những công cụ được coi là hứa hẹn nhất cho tới cách đây một thập kỷ – mối quan hệ gần gũi với Trung Quốc và vai trò lãnh đạo về kinh tế trong việc mang lại một trật tự mới cho khu vực – và cách thất bại trong những lĩnh vực này đã thay đổi chiến lược của Nhật Bản và việc sử dụng những công cụ đó ngày nay như thế nào.
Phần hai sẽ xem xét sự quay trở lại của Nhật Bản với trọng tâm chiến lược của nó ở châu Á: liên minh với Mỹ, các cơ hội và sự phức tạp mà liên minh này mang lại. Phần thứ ba khảo sát chiến lược cân bằng của Nhật Bản ở châu Á trong ba lĩnh vực. Phần thứ tư đánh giá chiến lược của Nhật Bản trong việc định hình sự hội nhập và xây dựng thể chế ở khu vực. Phần thứ năm xem xét lại những vấn đề lịch sử để lại, tại sao giới lãnh đạo Nhật Bản lại gặp khó khăn trong việc giải quyết chúng, và đâu là những lĩnh vực mà những vấn đề đó làm hoặc không làm phương hại ảnh hưởng của Nhật Bản. Cuối cùng, chương này sẽ kết thúc với việc xem xét lại những biến số có thể khiến Nhật Bản đi theo một hướng khác bằng một bộ công cụ hoàn toàn khác so với bộ công cụ đã được xem xét ở đây.
Nhân tố Trung Quốc
Khi Nhật Bản trỗi dậy
từ đống tro tàn của Thế chiến thứ hai và chuẩn bị tái hòa nhập với cộng đồng quốc
tế, giới tinh hoa theo xu hướng bảo thủ đã đưa ra những ý kiến khác nhau về việc
một Nhật Bản dân chủ hóa hoàn toàn mới sẽ đóng một vai trò như thế nào.
Một số quan chức cũ của Bộ Công thương, như Kishi Nobusuke, muốn liên minh chặt chẽ với Mỹ để chống lại chủ nghĩa cộng sản, thậm chí hợp tác [với Mỹ] sau chiến tranh Triều Tiên nhằm biến Nhật Bản trở thành một kho vũ khí ở châu Á. Trong khi đó, những người khác, như lãnh đạo Đảng Dân chủ Hatoyama Ichiro, lại muốn độc lập hơn với Mỹ thông qua việc ký một Hiệp ước Hòa bình với Nga (đến thời điểm hiện tại vẫn chưa ký) và sửa đổi lại Hiến pháp Nhật Bản. Nhưng các bên khác vẫn muốn tránh việc tăng cường quân đội vì lo sợ điều này sẽ đưa Nhật Bản đi theo lối mòn chiến tranh một lần nữa. Các phe phái khác nhau này đã được kéo vào cùng một liên minh cầm quyền bởi Yoshida Shigeru, người đã đưa ra một chiến lược đơn giản cho Nhật Bản vốn gom tất cả những chính trị gia theo xu hướng bảo thủ vào cùng một mái nhà và đảm bảo rằng liên minh đó sẽ thống trị nền chính trị Nhật Bản và gạt những người theo tư tưởng xã hội và cộng sản ra lề trong suốt nửa thế kỷ tới.
Một số quan chức cũ của Bộ Công thương, như Kishi Nobusuke, muốn liên minh chặt chẽ với Mỹ để chống lại chủ nghĩa cộng sản, thậm chí hợp tác [với Mỹ] sau chiến tranh Triều Tiên nhằm biến Nhật Bản trở thành một kho vũ khí ở châu Á. Trong khi đó, những người khác, như lãnh đạo Đảng Dân chủ Hatoyama Ichiro, lại muốn độc lập hơn với Mỹ thông qua việc ký một Hiệp ước Hòa bình với Nga (đến thời điểm hiện tại vẫn chưa ký) và sửa đổi lại Hiến pháp Nhật Bản. Nhưng các bên khác vẫn muốn tránh việc tăng cường quân đội vì lo sợ điều này sẽ đưa Nhật Bản đi theo lối mòn chiến tranh một lần nữa. Các phe phái khác nhau này đã được kéo vào cùng một liên minh cầm quyền bởi Yoshida Shigeru, người đã đưa ra một chiến lược đơn giản cho Nhật Bản vốn gom tất cả những chính trị gia theo xu hướng bảo thủ vào cùng một mái nhà và đảm bảo rằng liên minh đó sẽ thống trị nền chính trị Nhật Bản và gạt những người theo tư tưởng xã hội và cộng sản ra lề trong suốt nửa thế kỷ tới.
Tuy nhiên, bên dưới
mái nhà bảo thủ đó cũng có những ý kiến trái chiều về châu Á và đặc biệt là
Trung Quốc. Yoshida đã đưa ra quan điểm chính xuyên suốt căn cứ trên một giả định
sáng suốt rằng Trung Quốc cộng sản cuối cùng cũng dứt ra khỏi Liên Xô và xích lại
gần Nhật Bản vì lý do thương mại. Trong khi những người bảo thủ “chống lại quan
điểm chính thống này” tiếp tục ủng hộ Cộng hòa Trung Hoa (Đài Loan), những người
thuộc phe Yoshida đã đảm bảo rằng Nhật Bản sẽ tránh vướng vào vấn đề an ninh của
Đài Loan hoặc đối đầu với Bắc Kinh theo ủy quyền của Mỹ. Thủ tướng Sato Eisaku
đã đồng ý trong một bản tuyên bố chung với Tổng thống Nixon rằng Nhật Bản có lợi
ích trong việc đảm bảo ổn định eo biển Đài Loan vào năm 1969, nhưng ông làm vậy
chỉ bởi muốn có được cam kết của Nixon trong việc trả lại chủ quyền Okinawa cho
Nhật Bản. Không có bước tiếp theo nào trong quốc phòng hay chiến lược đối ngoại.
Trên thực tế, trong cùng thời điểm, Nhật Bản đã âm thầm mở rộng quan hệ kinh tế
với Trung Quốc thông qua quan hệ thương mại bán chính thức “L-T” (Liao Chengzhi
và Tatsunosuke Takasaki), và sau chuyến thăm năm 1972 của Kissinger đến Trung
Quốc, Thủ tướng Nhật Bản Tanaka Kakuei đã ngay lập tức bình thường hóa quan hệ
với Bắc Kinh (tròn bảy năm trước khi Washington thực hiện điều này). Năm 1978,
Nhật Bản và Trung Quốc đã ký Hiệp ước Hữu nghị, cho phép Trung Quốc bắt đầu các
khoản vay bằng đồng yên, vốn được Nhật Bản coi là viện trợ, còn Bắc Kinh lại
coi đó là khoản đền bù chiến tranh của Nhật cho Trung Quốc (lên tới hơn 1 tỷ đô
la Mỹ vào thời điểm cao nhất đầu những năm 1990). Nhật Bản cũng đóng vai trò
môi giới để giúp Trung Quốc và phương Tây hàn gắn lại với nhau sau sự kiện
Thiên An Môn ngày 6/4/1989, phá vỡ chế độ trừng phạt của phương Tây đưa ra tại
Hội nghị thượng đỉnh Houston năm 1990. Sự tiên đoán của Yoshida chính xác một
cách kỳ lạ, và những trí thức Nhật Bản bắt đầu ủng hộ cho một mối quan hệ tay
ba “cân bằng” hơn giữa Bắc Kinh, Washington và Tokyo.
Tuy nhiên, giữa những
năm 1990, mối quan hệ giữa Nhật Bản với Trung Quốc đột nhiên bắt đầu thay đổi.
Yoshida đã đúng về mức độ phụ thuộc lẫn nhau của kinh tế Trung-Nhật, nhưng ông
không lường trước được những khó khăn trong việc dùng sự phụ thuộc lẫn nhau này
để định hình hành vi ứng xử của Trung Quốc. Bước ngoặt đã xảy ra vào ngày
15/5/1995, khi Trung Quốc thử nghiệm vũ khí hạt nhân tại cơ sở Lop Nor. Các nhà
ngoại giao Nhật Bản đã cảnh báo rằng mối quan hệ kinh tế Trung – Nhật và việc
cho vay bằng đồng yên sẽ bị ảnh hưởng bởi cuộc thử nghiệm này, và các đảng phái
chính trị Nhật Bản dù theo xu hướng gì cũng đều chỉ trích Bắc Kinh. Nhưng các
cuộc thử nghiệm vẫn được tiến hành. Tháng 3/1996, Trung Quốc đã bắn tên lửa
xung quanh đảo Đài Loan.
Tháng 4 năm đó, Nhật Bản và Mỹ đã tái khẳng định liên minh Mỹ-Nhật trong Tuyên bố an ninh chung giữa Thủ tướng Hashimoto Ryutaro và Tổng thống Bill Clinton, và Tokyo đã đồng ý sửa đổi đường lối quốc phòng để lên kế hoạch không chỉ cho những bất trắc trong Chiến tranh Lạnh xuất phát từ việc Liên Xô có thể tấn công trực diện vào Nhật Bản, mà còn cho “những tình huống xảy ra xung quanh Nhật Bản gây ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh nước này”. Trong suốt thập kỷ tiếp theo, sự cạnh tranh Trung-Nhật đã trở thành một đặc điểm không thể nhầm lẫn trong quan hệ quốc tế châu Á.
Tháng 4 năm đó, Nhật Bản và Mỹ đã tái khẳng định liên minh Mỹ-Nhật trong Tuyên bố an ninh chung giữa Thủ tướng Hashimoto Ryutaro và Tổng thống Bill Clinton, và Tokyo đã đồng ý sửa đổi đường lối quốc phòng để lên kế hoạch không chỉ cho những bất trắc trong Chiến tranh Lạnh xuất phát từ việc Liên Xô có thể tấn công trực diện vào Nhật Bản, mà còn cho “những tình huống xảy ra xung quanh Nhật Bản gây ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh nước này”. Trong suốt thập kỷ tiếp theo, sự cạnh tranh Trung-Nhật đã trở thành một đặc điểm không thể nhầm lẫn trong quan hệ quốc tế châu Á.
Những kinh nghiệm từ
những năm 1990 đã cho công chúng và lãnh đạo Nhật Bản thấy các ý định của Trung
Quốc không chắc chắn như thế nào và việc Nhật Bản thiếu trang bị ra sao trong
việc định hình hành vi ứng xử của Trung Quốc: các công cụ kinh tế kém hiệu quả
so với dự kiến và tốc độ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc lên đến hai con số
một lúc trong khi Nhật Bản rơi vào tình trạng giảm phát kéo dài và không thể vượt
được mức tăng trưởng 2% mỗi năm ngay cả trong kịch bản tốt nhất. Các mối đe dọa
ngoại giao và quân sự cụ thể cũng gia tăng trong thập kỷ tiếp theo. Sách trắng
quốc phòng Nhật Bản tăng dần mức độ cảnh báo của mình về việc Trung Quốc tăng
cường quân đội, với lưu ý trong năm 2007 rằng Trung Quốc đã nắm giữ một “con số
đáng kể” các IRBM/MRBM (tên lửa đạn đạo tầm trung-xa/ tầm trung) có thể nhắm tới
Nhật Bản, bao gồm DF-3 và DF-21, cùng với các chương trình phát triển tên lửa
hành trình, tàu ngầm mới và một kho máy bay chiến đấu thế hệ thứ tư đang gia
tăng bao gồm J-10, Su-27 và Su-30.10 Một tàu ngầm Trung Quốc đã đi vòng quanh
Nhật Bản vào năm 2004 và sau đó đã xâm nhập vào lãnh hải Nhật Bản năm 2005, và
3 tàu khu trục Trung Quốc đã chĩa nòng súng vào máy bay tuần tra P-3C của Nhật
Bản vốn đang giám sát các hoạt động xung quanh đảo Điếu Ngư vào năm 2005.11
Trên mặt trận ngoại giao, các nhà ngoại giao Trung Quốc đã vận động hành lang
khắp châu Á và châu Phi vào năm 2005 nhằm chống lại những nỗ lực của Nhật Bản
trong việc giành ghế tại Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc dựa trên “đồng thuận” rằng
Nhật Bản không chịu chuộc lại lỗi lầm của mình trong Thế chiến thứ hai.
Những thay đổi trong
chính trị nội bộ của Nhật Bản đều vừa làm phức tạp thêm, vừa bị thúc đẩy bởi những
diễn biến này. Mối quan hệ Trung-Nhật trong suốt Chiến tranh Lạnh được gìn giữ
bởi các phe theo quan điểm chính thống của Đảng Dân chủ Tự do (LDP) và đặc biệt
là phe của Thủ tướng Tanaka, lãnh đạo Đảng từ năm 1972 đến năm 1993 và đã duy
trì sự tập trung vào việc phát triển kinh tế Nhật Bản mà không bị chi phối bởi
vấn đề ý thức hệ. Cấu trúc chính trị Nhật Bản phản ánh cấu trúc của Chiến tranh
Lạnh, và với sự sụp đổ của Liên Xô, phe cánh tả của Nhật Bản đã nhanh chóng
thoái trào, và phe của Tanaka vốn trước kia chiếm ưu thế giờ dần dần đánh mất
vai trò vào tay các chính trị gia bảo thủ thế hệ trẻ ở cả Đảng Dân chủ Tự do và
Đảng Dân chủ đối lập mới của Nhật Bản, những người ủng hộ các chính sách quyết
đoán và không xin lỗi của Hatoyama và Kishi. Với thế hệ mới này, đối đầu với
Trung Quốc đã trở thành một vấn đề không chỉ thuộc về an ninh quốc gia mà còn
là bản sắc dân tộc.
Trung Quốc cũng đã đấu
tranh với một Nhật Bản mà nó không lường trước được. Năm 1978, Hiệp ước Hòa
bình và Hữu nghị được cho là đã khép lại mối quan hệ song phương dựa trên bản
án của Tòa án tội phạm chiến tranh Tokyo. Chủ tịch nước Trung Quốc Giang Trạch
Dân đã tuyên bố trong chuyến thăm thất bại đến Tokyo vào tháng 10 năm 1998, rằng
đây không phải là vấn đề chấp nhận lời xin lỗi của Nhật Bản, mà là Nhật Bản phải
mãi mãi cảm thấy hối hận.12 Thực tế, sau Hiệp ước năm 1978, Bắc Kinh thấy rằng
có thể vận động cánh tả và trung tả ở Nhật Bản chống lại những nỗ lực sửa đổi
sách giáo khoa hoặc các chuyến thăm chính thức đến đền Yasukuni, nơi vinh danh
những người đã chết trong chiến tranh của Nhật Bản (bao gồm 13 tội phạm chiến
tranh loại A). Nhưng theo những gì Chủ tịch Giang Trạch Dân nhận thấy trong suốt
chuyến thăm đến Tokyo năm 1998, quan điểm chính lưu đang dịch chuyển khỏi Trung
Quốc, và Bắc Kinh càng gây áp lực kiềm chế với các vấn đề lịch sử nhạy cảm,
công luận Nhật Bản lại càng ủng hộ một vị Thủ tướng kiên quyết, người có thể tiếp
tục hành động bất chấp những áp lực từ Trung Quốc. Khả năng hai chính phủ và
hai hệ thống chính trị có thể xử lý các vấn đề này đã ở mức tệ nhất trong năm
2005-2006. Thủ tướng Koizumi nhậm chức năm 2001 mà không hề có chương trình nghị
sự nào chống đối Trung Quốc và đã tiến hành chuyến thăm đến cầu Lư Câu (Marco
Polo) nơi cuộc chiến Trung-Nhật nổ ra năm 1937 để bày tỏ sự hối tiếc của mình.
Nhưng ông cũng hứa với Hiệp hội các gia đình có người thân chết trong chiến
tranh (Izzokai) trong một cuộc gặp đầy nước mắt rằng ông sẽ đến đền Yasukuni để
bày tỏ sự tôn kính với những người thân của họ đã chết trong chiến tranh. Trung
Quốc đã giận dữ và Chủ tịch Hồ Cẩm Đào cố gắng thuyết phục Koizumi đừng đi đến
đó khi hai nước đang ở thời điểm cận kề Hội nghị thượng đỉnh Bangdung năm
2005.13 Nhưng Koizumi đã hứa chỉ thực hiện “điều nên làm” – có nghĩa là ông vẫn
sẽ đến thăm đền Yasukuni. Hồ Cẩm Đào đã công khai tuyên bố sẽ không có Hội nghị
thượng đỉnh song phương nào với Koizumi cho tới khi Thủ tướng Nhật Bản hứa sẽ
không đến thăm ngôi đền. Đa số người dân Nhật Bản, kể cả những người từng không
ủng hộ chuyến viếng thăm này, cũng đã ủng hộ Koizumi thực hiện điều đó.14 Khi
các đám đông Trung Quốc tấn công chiếc xe của một quan chức cấp cao Nhật Bản
sau khi Nhật thắng Trung Quốc năm 2005 tại trận đấu vòng loại World Cup ở châu
Á, cảm nhận của công chúng Nhật Bản coi mình như là nạn nhân của Trung Quốc
càng tăng lên.
Chuyến thăm cuối cùng
của Koizumi đến đền Yasukuni với tư cách Thủ tướng diễn ra vào ngày 15/8/2007,
ngày kỷ niệm sự đầu hàng của Nhật Bản và cũng là một ngày rất nhạy cảm đối với
tất cả các kẻ thù cũng như nạn nhân chiến tranh của Nhật Bản. Tuy nhiên, trớ
trêu thay, điều này đã mở ra cánh cửa cho người kế nhiệm, Abe Shinzo (người hiếu
chiến hơn Koizumi về vấn đề Trung Quốc), đạt được một sự hâm nóng lại quan hệ với
Trung Quốc bằng chuyến thăm Bắc Kinh ngày 9/10/2007, nơi ông được đón tiếp nồng
nhiệt bởi dàn lãnh đạo Trung Quốc vốn quan ngại về việc suy giảm đột ngột mối
quan hệ Trung-Nhật và nhận thấy ở Abe cơ hội cho một sự khởi đầu mới. Hồ Cẩm
Đào khôn ngoan không công khai gây sức ép buộc Abe tránh xa Yasukuni, cũng như
Abe đã khôn ngoan không hứa hẹn gì với các cử tri về việc này.15 Người kế nhiệm
Abe, Fukuda Yasuo và Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đã có những chuyến viếng
thăm lẫn nhau vào đầu năm 2008. Điểu này đã giúp cải thiện tốt hơn bầu không
khí giữa hai nước, nhưng không giải quyết được gốc rễ của sự căng thẳng về quân
sự, tư tưởng và chiến lược.
Thời kỳ “kinh tế ấm
và chính trị lạnh” đã thách thức lý thuyết quan hệ quốc tế, nhưng lại đặc trưng
cho trạng thái quan hệ Trung-Nhật trong thời gian tới. Mỉa mai nhất là sự khôi
phục kinh tế Nhật Bản năm 2004-2006 sau nhiều năm chống đỡ với giảm phát đòi hỏi
những cải cách của Koizumi và một nền kinh tế đang trỗi dậy của Trung Quốc để
thu hút hàng xuất khẩu Nhật Bản, vốn cuối cùng sẽ được xuất khẩu tiếp sang Mỹ
sau khi được lắp ráp ở Trung Quốc.
Thương mại Trung-Nhật đã vượt qua thương mại Nhật-Mỹ trong năm 2005, và theo thống kê của Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản, các nhà kinh doanh Nhật Bản tiếp tục xem Trung Quốc là mục tiêu chính cho đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.16 Nhưng dư luận Nhật Bản về Trung Quốc không được cải thiện sau khi trượt dốc từ thời kỳ mà quan điểm tích cực chiếm ưu thế trong suốt những năm hoàng kim 1980.
Thương mại Trung-Nhật đã vượt qua thương mại Nhật-Mỹ trong năm 2005, và theo thống kê của Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản, các nhà kinh doanh Nhật Bản tiếp tục xem Trung Quốc là mục tiêu chính cho đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.16 Nhưng dư luận Nhật Bản về Trung Quốc không được cải thiện sau khi trượt dốc từ thời kỳ mà quan điểm tích cực chiếm ưu thế trong suốt những năm hoàng kim 1980.
http://nghiencuuquocte.org/2013/06/21/japan-in-asia/#more-212
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét