Đã hơn 40 năm nay, cứ gần đến ngày 30/4, tôi lại băn khoăn
suy nghĩ, đau xót và cay đắng về chuyện hòa giải hòa hợp dân tộc đã bị lãng
quên và vô vọng chưa biết đến bao giờ mới thành hiện thực. Theo dõi Hội nghị
Paris họp từ cuối năm 1968, trong các bài phát biểu và các văn kiện của các
bên, những chữ và hòa giải hòa hợp (HGHH) được lặp đi lặp không biết bao nhiêu
lần. Trong Hiệp định cuối cùng năm 1973, còn có một chương riêng về HGHH, lập Hội
đồng HGHH Dân tộc. Vấn đề này theo riêng tôi là vấn đề lớn nhất, đáng trân trọng
nhất trong các vấn đề được nêu.
Tôi cố tìm hiểu, vì sao như vậy? Có lẽ vì từ trong gia đình
và dòng họ Bùi của tôi, tình nghĩa họ hàng luôn được coi rất trọng. Các anh chị
em chú bác của tôi đều coi nhau như anh chị em ruột thịt, thương yêu nhau hết
lòng, không một chút phân biệt. Nhà tôi và nhà hai ông Bác ruột tuy ở cùng một
ngõ, cách nhau vài trăm thước, nhưng luôn gọi là ‘’Nhà Trong’’, ‘’Nhà Giữa’’ và
‘’Nhà Ngoài’’, cứ như chung sống dưới một mái nhà vậy. Nghĩa tình dân tộc đi từ
tình nghĩa gia đình, dòng họ, rồi tình đồng hương, đồng học, đồng nghiệp, đồng
bào, đồng loại. Mẹ tôi theo đạo Phật rất sâu sắc, có giọng hát và ru con đặc biệt
hay, thường dạy chúng tôi khi còn nhỏ, trước lớp vỡ lòng, những câu: tình đồng
loại, nghĩa đồng bào, tứ hải giai huynh đệ, thương người như thể thương thân,
thấy người ngèo đói thì thương, thấy người tàn tật lại càng xót xa, rồi lá lành
dùm lá rách, miếng khi đói bằng gói khi no, nhân chi sơ tính bản thiện, ở hiền
gặp lanh, tích phúc tích đức cho con cháu...Lớn lên tôi vào Hội Hướng đạo, được
luyện thêm về tình thương con người, cứu giúp người nghèo khổ, hàng ngày làm việc
thiện, bênh vực kẻ nghèo khổ, học băng bó cấp cứu người bị nạn, chết đuối...
Cho nên khi tham gia các cuộc họp Ban Liên hợp Quân sự 4 bên
trong sân bay Tân Sơn Nhất đầu năm 1973, lần đầu gặp các sỹ quan Việt Nam Cộng
hòa, tôi cảm thấy gần gũi hơn so với các sỹ quan Mỹ, nói chuyện cởi mở, thân mật,
không có ý thức thù hận. Đến ngày 30/4/1975, khi gặp các nhân vật cao nhất
trong Dinh Độc Lập, tôi bảo anh chiến sỹ mang súng dài không cần vào phòng lớn,
chỉ có tôi và nhà báo Nguyễn Trần Thiết vào gặp. Sau khi nói vài lời có vẻ xã
giao, tôi hỏi chuyện thân mật ngay với ông Dương Văn Minh, về người em ruột ông
trong quân đội miền Bắc, về chuyện ông còn chơi quần vợt thường ngày không và về
collection phong lan của ông. Chúng tôi ngồi nói chuyện thân mật, có thể nói
chan hòa. Với Thủ tướng Vũ Văn Mẫu cũng vậy.
Tôi rất xúc động và nhớ mãi là sau khi Phó Thủ tướng Nguyễn
Văn Hảo gặp riêng và thông báo chính thức ‘’Chúng tôi đã giữ lại trong Ngân khố
hơn 16 tấn vàng mong ông báo cho ngoài đó cho người vô tiếp nhận” , ông thân mật
nói: ’’Bọn tôi chỉ mong từ nay chúng ta coi nhau như anh em ruột thịt, chung
lòng chung sức thì nước Việt Nam ta sẽ phát triển rất nhanh, rất mạnh, không
thua một nước nào trong khu vực này‘’.
Một suy nghĩ đúng đắn, một nguyện vọng chân thành, đẹp đẽ, vậy
mà bị lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam (CSViệt Nam) quên khuấy, lờ tịt, thực hiện
điều trái ngược là vẫn coi nhau là thù địch, không thể HGHH được với nhau. Tôi
cho đây là sai lầm tệ hại nhất, là tội ác lớn nhất suốt hơn 40 năm nay, là món
nợ lịch sử lớn nhất của đảng CSViệt Nam đối với dân tộc, với đồng bào mình. Sau
này tôi gặp nhiều anh em từng ở phía bên kia, như các tướng Nguyễn Văn Hinh, Trần
Văn Đôn, Lý Tòng Bá, Nguyễn Khánh... cũng vậy, còn kết rất thân với Đinh Quang
Anh Thái, Đại tá Lợi, Phan Nhật Nam, Vương Văn Đông, Nguyễn Văn Huy... như bạn
thân lâu năm.
Tôi vẫn không sao hiểu nổi sao lãnh đạo CS Việt Nam lại nuốt
lời hứa trịnh trọng về HGHH dân tộc do chính họ từng đưa ra tại các cuộc đàm
phán?
Vì sao vậy? Vì sao họ lại nhẫn tâm và mê muội từ bỏ HGHH tuyệt
vời để lao mãi vào con đường anh em ruột thịt thù địch nhau cho đến muôn đời? Tại
sao họ mù quáng, dại dột đến thế? Ngu dại cũng phải có chừng mực chứ!
Thế rồi nỗi băn khoăn kéo dài ấy được giải tỏa gần đây.
Đó là khi cô Phạm Thanh Nghiên nhận được yêu cầu đi tìm bia
và danh sách anh em tù nhân chính trị trại Ba Sao-Nam Hà bị giết và chết từ năm
1975 đến năm 1988, một điều bí mật mà lãnh đạo CSViệt Nam rất lo bị tiết lộ. Cô
Nghiên liền tự mình đi lên Nam Hà, tìm cách tiếp cận trại Ba Sao rộng lớn, gian
khổ tìm được ngôi chùa nhỏ trong rừng, gần đó có một cái am nhỏ có một chiếc
bia nhỏ có 4 dòng; Bia thờ - 626 Linh Hồn - Tử vong tại trại Ba Sao - (1975 –
1988). Cô vui mừng chụp hình chiếc bia, nhưng đau buồn vì chưa có được danh
sách 626 oan hồn, để có thể gửi ra nước ngoài cho thân nhân các nạn nhân của
CS. Cô cho biết người từng bí mật xây bia và chăm sóc thắp hương tại am là một
người cai tù (dấu tên) trại Ba Sao và một cô Phật tử tên Thu Hương sống trong
vùng. Viên cai tù hiếm có và cô Thu Hương cũng có tinh thần HGHH tự tâm.
Trong tư duy cô Phạm Thanh Nghiên có thể không có quan điểm,
lập luận, lý sự chính trị hay đạo đức gì rõ về HGHH dân tộc Nhưng quan điểm đó
nằm sâu trong máu thịt, tim óc cô, do tiếp thu lẽ phải từ tấm bé, do cha mẹ,
nhà trường răn dạy bằng thực tế, nên yêu thương đồng bào ta, đồng lọai - tứ hải
giai huynh đệ - là lẽ sống tự nhiên của cô gái bé nhỏ này. Cô yêu thương các
anh sỹ quan Việt Nam Cộng hòa bị CS giết chết oan uổng không chút đắn đo, suy
tính vụ lợi, so sánh thiệt hơn, coi việc đi tìm am miếu anh em là việc cần làm,
phải làm, là nghĩa vụ, không chút do dự. Cô hiểu ngay rằng nhiều bà con ta ở hải
ngoại mong ước có được tấm hình bia đó và cả danh sách nữa thì càng tốt, và cô
tự nhủ sẽ trở lại đây để dò tìm nữa.
Tôi hiểu rằng lãnh đạo CSViệt Nam từ Hồ Chí Minh, Lê Duẩn,
Lê Đức Thọ cho đến Nguyễn Văn Linh, nay là Nguyễn Phú Trọng là những con người
không giống ai trong cộng đồng dân tộc, đã bị học thuyết đấu tranh giai cấp,
chuyên chính vô sản và bạo lực, coi chiến tranh là động lực cách mạng, giết chết
tình đồng loại, nghĩa đồng bào. Trong tâm huyết và lý trí họ không có khái niệm
dân tộc Việt Nam, bà con Việt Nam, nhân dân Việt Nam, mà chỉ có giai cấp đối
kháng, dân tộc đối kháng, nâng căm thù lên thành khoa học căm thù, học thuyết
căm thù được giảng dạy trong các trường đảng. Họ sẵn sàng làm thịt ‘’ân nhân’’
Nguyễn Thị Năm, bắt con gọi bố bằng ‘’thằng địa chủ’’ trong Cải cách ruộng đất,
đầy ải không chút do dự hàng trăm ngàn quân nhân viên chức Việt Nam Cộng hòa là
do những học thuyết phi nhân quái gở như thế.
Họ không hề biết sau nội chiến Bắc - Nam ở Mỹ, quân miền Bắc
chiến thắng đã dàn chào các tướng miền Nam thua trận, coi nhau là anh em, các
liệt sỹ hai bên được chôn chung nghĩa trang, quân lính miền Nam giải ngũ còn được
mang theo ngựa về quê để cày cấy. Còn ở nước ta, lãnh đạo CSViệt Nam lên cơn
điên, kiểu đồng bóng CS, hô hào anh em giết nhau đi, giết cho thật nhiều, càng
nhiều càng vui càng sướng, càng ăn mừng in trên báo chữ đỏ lòm, thưởng huân
chương bừa bãi cổ võ thi đua ‘’giết ngụy’’, ‘’ám sát ngụy’’, coi các ‘’địa chủ
dân tộc’’, ‘’ tư sản dân tộc, nhân sỹ dân tộc, trí thức dân tộc là thù địch tuốt’,
chỉ liên minh từng giai đoạn ngắn.
Tất cả lũ người mù quáng ấy đều như không còn dòng máu Việt
tộc trong huyết quản, đều đặt những tên đồ tể quốc tế Lênin, Stalin, Mao Trạch
Đông, Tập Cận Bình… lên trên các Anh hùng dân tộc Ngô Quyền, Quang Trung, Trần
Hưng Đạo... Họ chỉ coi HHHG dân tộc là một thuật ngữ chính trị nhằm mưu lợi
riêng theo chiến thuật phe đảng ngắn hạn, khi không cần, không có lợi về chính
trị đảng phái thì bỏ đi, vứt vào sọt rác. Chính trên cơ sở như thế mà mấy đời
lãnh tụ, mấy đời Bộ Chính trị đều hèn kém, kém xa một cô gái nhẹ cân mang bản
chất Việt Nam Phạm Thanh Nghiên, có tâm hồn dân tộc sâu đậm cao quý. Tôi có thể
nói thẳng không chút ngại ngùng rằng trên tư thế yêu nước, thương đồng bào một
cách tự nhiên sâu đậm, họ đều không thể nào so sánh được với cô gái Phạm Thanh
Nghiên vậy.
Cho nên trong vấn đề HHHG dân tộc, đến nay, sau hơn 40 năm
tôi mới ngộ ra một cách sâu sắc rằng có hai cách đối xử với HGHH hoàn toàn khác
nhau, đối lập nhau, đó là quan niệm HGHH dân tộc thấm sâu trong tim gan một
cách tự nhiên, có thể nói là HGHH tự tâm, và một kiểu trái ngược là coi HGHH
dân tộc là một mưu đồ chính trị, phương tiện cơ hội, vụ lợi thấp hèn, phản dân
tộc phản nhân dân.
Vì thế tôi rất tâm đắc với đường lối chính trị của Tập họp
Dân chủ Đa nguyên và tạp chí Thông Luận coi HHHG không phải là một tính toán
chính tri, thủ thuật chính trị, mà là một vấn đề sống còn, một nguyên tắc, một
chiến lược cần thiết, thiêng liêng để khôi phục tình nghĩa Việt Nam ruột thịt một
nhà, tăng lực vô tận cho công cuộc đấu tranh giành Độc lập trọn vẹn, bảo vệ
lãnh thổ và lãnh hải Quê hương, xây dựng một nước Việt Nam Dân chủ, Bình đẳng,
Phát triển và hòa nhập với thế giới Dân chủ Văn minh.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét