Nguyễn Quang Dy
Trung Quốc tăng cường
kiểm soát và trấn áp các quyền tự do dân chủ (bên trong) và hung hăng với bên
ngoài, không phản ánh sức mạnh đang lên, mà bộc lộ thế yếu đi xuống...
“Quyền lực đẻ ra từ
nòng súng” (Mao Trạch Đông)
Câu nói của Mao (quyền
lực đẻ ra từ nòng súng) chỉ đúng một phần. Thứ nhất, nó chỉ đúng với quyền lực
cứng, chứ không đúng với quyền lực mềm, vì súng và tiền không thể đẻ ra quyền lực
mềm. Thứ hai, nó chỉ đúng với việc giành quyền lực, chứ không đúng với việc giữ
quyền lực, vì muốn giữ quyền lực lâu dài thì phải đổi mới và phát triển. Muốn
phát triển bền vững phải đổi mới cả kinh tế lẫn chính trị. Nhưng “quyền lực tuyệt
đối thì tham nhũng tuyệt đối”, nên những kẻ độc tài và tham nhũng không chịu đổi
mới chính trị.
Chính Mao đã từng nói
“chính trị là thống soái” (politics in command) và hô hào phải làm “cách mạng
thường trực”. Chính Mao đã huy động “Hồng vệ Binh” (fringe power) đối đầu và
đánh sập hệ thống quyền lực của Đảng (mainstream power) để giành lại quyền lực
(độc tôn). Chính Mao đã tạo ra “tiền lệ chống Đảng” (bằng bạo lực). Phải chăng
Tập Cận Bình cũng đang bắt chước Mao một cách “sáng tạo” theo “Neo-Maoism” để
giành quyền lực (độc tôn). Đối với Mao (và Tập) chính trị là độc tài. Cả Mao và
Tập đều sùng bái quyền lực tuyệt đối và áp dụng sùng bái cá nhân, nên không hiểu
giới hạn của quyền lực cứng.
Giới hạn của quyền lực
không phải là điều mới lạ. Bệnh sùng bái quyền lực rất phổ biến, không phải chỉ
ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước khác. Con người vốn sợ quyền lực, sợ kẻ mạnh, sợ
nước lớn (như sợ Trung Quốc). Một số người (ở Việt Nam) sợ Trung Quốc nên không
dám phản kháng khi bị họ bắt nạt; không dám kiện khi bị họ xâm phạm chủ quyền;
không dám chơi với nước khác làm đối trọng vì sợ họ giận. Một số nước không dám
lên án Trung Quốc quân sự hóa và lấn chiếm Biển Đông, vì sợ mất lòng Trung Quốc,
và mất lợi ích kinh tế.
Napoléon Bonaparte đã
từng nói “Trung Quốc là một người khổng lồ đang ngủ. Hãy để cho nó ngủ yên, vì
khi thức dậy nó sẽ làm đảo lộn thế giới”. Lời cảnh báo đó nay đã trở thành sự
thật. Trung Quốc đã trỗi dậy (không hòa bình), bắt nạt các nước yếu hơn, và
thách thức trật tự thế giới. Nhưng Trung Quốc mạnh tới đâu và có đáng sợ không?
Sức mạnh của họ có giới hạn không? Và làm thế nào để đối phó với sức mạnh của
Trung Quốc?
Trung Quốc trỗi dậy:
Dựa vào quyền lực cứng
Sau ba thập kỷ phát
triển kinh tế ngoạn mục với tốc độ tăng trưởng hai con số, Trung Quốc đã vượt
qua Nhật Bản, trở thành cường quốc kinh tế lớn thứ hai thế giới và đang cạnh
tranh với Mỹ về kinh tế và quân sự, với tham vọng sẽ vượt cả Mỹ. Trung Quốc hiện
là chủ nợ lớn nhất của Mỹ (với 1.300 tỷ USD tài sản). Dự trữ ngoại tệ của Trung
Quốc vẫn đứng đầu thế giới, tuy gần đây đã bị tụt xuống mức 3.300 tỷ USD (cuối
năm 2015). Ngân sách quốc phòng của Trung Quốc năm 2016 tuy tăng một cách khiêm
tốn là 7,6% nhưng vẫn đứng thứ hai thế giới (146,67 tỷ USD), chỉ sau Mỹ (573 tỷ
USD cho ngân sách năm 2016).
Trung Quốc không chỉ
là “quái vật kinh tế” (economic monster) như Nhật trước đây, mà còn là “quái vật
quân sự” (military monster). Trung Quốc vừa sử dụng “cái gậy” để triển khai quyền
lực (project power), vừa sử dụng “củ cà rốt” để mua chuộc các nước bằng túi tiền
(checkbook diplomacy). Để mua chuộc Pakistan, Trung Quốc đã đầu tư 46 tỷ USD
(4/2015). Để cạnh tranh với thể chế tài chính của Mỹ và Nhật, Trung Quốc đã khởi
xướng Ngân hàng Đầu tư Cơ sở Hạ tầng Châu Á (AIIB) và góp vốn 50 tỷ USD
(4/2015). Tập Cận Bình muốn theo đuổi “Giấc mộng Trung Hoa” để làm bá chủ thế
giới bằng “Một vành đai, Một con đường”. Đó là con đường cực đoan dựa trên sức
mạnh cứng của cơ bắp và tiền.
Tại Biển Hoa Đông,
Trung Quốc thách thức Nhật Bản, đòi chủ quyền đảo Điếu Ngư và áp đặt Khu vực Nhận
diện Phòng không (ADIZ). Tại Biển Đông, Trung Quốc bắt nạt các nước láng giềng,
xâm phạm chủ quyền Việt Nam bằng dàn khoan HD981, bồi đắp các đảo đá ngầm và
xây dựng các căn cứ quân sự, thách thức quyền tự do hàng hải quốc tế với yêu
sách “đường chín đoạn”, nhằm kiểm soát và độc chiếm Biển Đông. Bằng “cái gậy”
và “củ cà rốt”, Trung Quốc tăng cường phân hóa và thao túng các nước ASEAN (như
cách tách bó đũa ra để bẻ từng chiếc) nhằm đối phó với chính sách ngăn chặn của
Mỹ.
Khi Tập Cận Bình đến
thăm Canberra (17/11/2014), chính phủ Tony Abbott đã trải thảm đỏ đón như một
hoàng đế. Tập Cận Bình đã đọc diễn văn tại Quốc Hội Úc, nhấn mạnh hai nước “tay
trong tay” và “vai kề vai” vì sự phát triển hai nước và ổn định khu vực. Khác với
chuyến thăm vội vàng của Tổng thống Obama (11/2014), Tập Cận Bình đã được chính
phủ Úc tìm mọi cách làm hài lòng (kể cả việc trước đó bỏ công sức và tiền bạc
tìm kiếm vô vọng chiếc máy bay mất tích MH-370) để lấy lòng Trung Quốc, nhằm ký
được một hiệp định thương mại có lợi cho nền kinh tế đang cần vốn và thị trường.
Không biết có phải vì họ ngộ nhận hay ngây thơ về Trung Quốc hay không, mà
chính phủ bang Northern Teritory đã quyết định cho tập đoàn Landbridge thuê cảng
Darwin 99 năm, với giá 506 triệu AUD. Quyết định này đã bị dư luận báo chí
trong nước thổi còi và chính phủ Mỹ phản ứng (New York Times, 21/3/2016).
Landbridge có quan hệ mật thiết với PLA, và Darwin là nơi đóng quân của 2500
lính thủy đánh bộ Mỹ theo kế hoạch “xoay trục” sang Châu Á để đối phó với Trung
Quốc.
Nước Anh cũng tuyên bố
về một “kỷ nguyên vàng” trong quan hệ với Trung Quốc và bày tỏ nguyện vọng được
làm “người bạn tốt nhất” của Trung Quốc tại Tây Âu. Khi Tập Cận Bình đến thăm
London (20-23/10/2015) chính phủ David Cameron không chỉ trải thảm đỏ mà còn
“treo cờ trắng đầu hàng” (về vấn đề Hong Kong) để đổi lấy những lợi ích kinh tế
(nghe nói là 6 tỷ USD). Một cựu cố vấn cho Thủ tướng Anh (ông Steven Hilton) nhận
xét rằng việc cúi đầu chịu khuất phục Trung Quốc là “sai lầm về đạo đức và thiển
cận về kinh tế”. Nói cách khác, không nên làm bạn với “con mãng xà nấp trong
chùm đèn” (tên một bài báo của Perry Link). Một nhà hoạt động nhân quyền người
Anh (ông Benedict Rogers) bình luận, “Trung Quốc là kẻ bắt nạt, chúng ta cần đứng
lên…” (Jonathan London blog, 3/3/2016).
Không phải chỉ có Úc
và Anh sợ Trung Quốc mất lòng, mà nhiều nước khác (như Malaysia, Indonesia,
Myanmar, Cambodia và Thailand) cũng thích “củ cà rốt” Trung Quốc. Nhưng gần
đây, Malaysia và Indonesia bắt đầu thay đổi thái độ, vì Trung Quốc hành xử quá
thô bạo. Tập Cận Bình đang thể hiện “xu hướng Phát-xít” trong nước và cách ứng
xử ngày càng trắng trợn ở ngoài nước. Tình hình chính trị bên trong Trung Quốc
hiện đáng báo động, và là mối đe dọa cho sự ổn định trong khu vực. (Jonathan
London blog, 22/3/2016).
Trung Quốc suy tàn:
Thiếu quyền lực mềm
Mô hình phát triển
kinh tế với “bản sắc Trung Quốc” (Chinese exceptionalism) dựa trên thuyết
“authoritarian resilience” được đánh giá là động lực chính đưa Trung Quốc cất
cánh về kinh tế (sau sự kiện Thiên An Môn). Mô hình này đã giúp Trung Quốc phát
triển ngoạn mục trong một thời gian, nhưng đến nay đã hết đà và hết hiệu nghiệm.
Kinh tế Trung Quốc không thể dựa mãi vào xuất khẩu, mà cần phải chuyển đổi cơ cấu
(dựa trên sức mua cho tiêu dùng trong nước). Nhưng có nhiều dấu hiệu cho thấy
Trung Quốc đã phát triển “kịch đường” (Paul Krugman), và đang gặp phải những
mâu thuẫn trầm trọng, có thể dẫn đến sụp đổ hệ thống, nếu không đổi mới chính
trị và dân chủ hóa. Nhưng đổi mới lại mâu thuẫn với bản chất chế độ chuyên chế
độc đảng, đúng lúc này chuyển hướng cực đoan, tăng cường trấn áp.
Thay vì đổi mới thể
chế chính trị thì Tập Cận Bình lại tăng cường kiểm soát và trấn áp. Ủy ban Kiểm
tra Kỷ luật TƯ (CCDI) do Vương Kỳ Sơn làm Bí thư, là cánh tay phải của Tập Cận
Bình và là cơ quan quyền lực đáng sợ nhất. CCDI đã bắt 160 “hổ to” (cán bộ cao
cấp) và 1.400 “hổ nhỏ” để điều tra tham nhũng, nhằm “giết gà dọa khỉ” (xiaji
jinghou). Dưới ngọn cờ chống tham nhũng, Tập Cận Bình đã ráo riết thanh trừng
các đối thủ chính trị. Bộ Công nghệ Thông tin (MIT) còn ra quy định cấm các
công ty báo chí do nước ngoài đầu tư không được xuất bản kể cả trực tuyến, nếu
không được phép. Tập Cận Bình tuyên bố, “Tất cả các cơ quan truyền thông do Đảng
chỉ đạo phải nói tiếng nói của Đảng và bảo vệ uy quyền và thống nhất của Đảng”.
(Orville Schell, New York Review of Books, April 21, 2016).
Giới nghiên cứu độc lập
và các giáo sư có quan điểm cởi mở tại các viện nghiên cứu và các trường đại học
rất lo ngại về “hệ quả đáng sợ” của các chính sách cực đoan này đối với học thuật.
Nhiều luật sư về nhân quyền đã bị bắt, trong số 300 luật sư với các cộng sự và
người thân của họ, trong “Chiến dịch 709” (từ 9/7/2013). Từ năm 2013, tỉnh Chiết
Giang đã tiến hành chiến dịch phá hủy thánh giá trên các nhà thờ, đến nay hơn
1.000 cây thánh giá đã bị phá hủy, gồm các nhà thờ bị xử phạt chính thức. Nhiều
nhà báo và học giả nước ngoài không được cấp visa nhập cảnh. Chiến dịch trấn áp
này còn vươn ra khỏi Trung Quốc.
Chiến dịch trấn áp
này không phải chỉ giống thời Cách mạng Văn hóa mà còn giống mô hình “Đông Xưởng”
(Eastern Depot) thời nhà Minh, dưới đời vua Chu Lệ (Yongle Emperor, 1402-1424)
với một hệ thống mật thám theo dõi nội bộ rất chặt chẽ, để bảo vệ vương quyền.
Các cơ quan tuyên truyền của Đảng gọi Tập Cận Bình là lãnh đạo “nòng cốt”
(hexin) theo kiểu “độc tài cá nhân” (dictatorial personality). Nhiều người lo
ngại Trung Quốc đang trượt theo xu hướng Mao (Neo-Maoism), chứ không theo xu hướng
Đặng Tiểu Bình, và ngày càng giống mô hình “Đông Xưởng” đầy tai tiếng. Nhưng
tăng cường kiểm soát và trấn áp không có nghĩa là Trung Quốc đang mạnh lên, mà
là đang suy yếu. Theo David Shambaugh, Trung Quốc đang trong “màn chót”
(endgame) hay trong “buổi hoàng hôn” (twilight) của chế độ cộng sản (Minxin
Pei). Còn theo Ross Peros thì Trung Quốc sẽ “hạ cánh cứng” (hard landing).
Bất chấp trấn áp, dư
luận phản đối Tập Cận Bình vẫn không bị dập tắt. Trong một bức thư ngỏ lưu hành
trên mạng, phóng viên Tân Hoa Xã Zhou Fang đã phê phán chính sách kiểm duyệt
thô bạo và cực đoan của Tập Cận Bình là “vi phạm quyền tự do ngôn luận trực tuyến”.
Một bức thư ngỏ khác của một nhóm các “Đảng viên Cộng sản trung kiên” (đăng
trên website CCDI) không những lên án Tập về tệ “sùng bái cá nhân” mà còn công
khai kêu gọi Tập từ chức vì, “không có năng lực lãnh đạo Đảng và đất nước tiến
vào tương lai…”
Bức thư đó lập luận rằng
“chính sách đối ngoại hung hăng của Tập đã gây hấn với các nước láng giềng và để
Mỹ giành ảnh hưởng, trong khi làm Hong Kong và Đài Loan li tán. Quản trị kinh tế
của Tập đã dẫn đến sự đổ vỡ của thị trường chứng khoán năm ngoái, làm cho các
doanh nghiệp nhà nước phải sa thải hàng loạt nhân viên và làm nền kinh tế suy sụp”.
Một giáo sư của trường Đảng cảnh báo “đàn áp sẽ gây nguy hiểm cho Đảng”. Theo
Andrew Nathan, những ý kiến chỉ trích đăng trên website CCDI chứng tỏ những người
ủng hộ Tập đang lo ngại những quyết sách của ông có thể làm sụp đổ chế độ
(Washington Post, March 29, 2016).
Người dân lo sợ tìm mọi
cách chuyển tiền ra nước ngoài, làm Trung Quốc chảy máu ngoại hối ngày càng nhiều.
Riêng năm 2015, đã có 1000 tỷ USD chạy khỏi Trung Quốc, làm dự trữ ngoại hối chỉ
còn 3.300 tỷ USD. Chỉ cần 5% dân số Trung Quốc chuyển tiền ra nước ngoài hợp lệ
(mỗi người được chuyển 50.000 USD/năm) thì số dự trữ ngoại hối nói trên sẽ hết
sạch. Theo AFP (20/1/2016) 1/4 số công ty Hoa Kỳ kinh doanh tại Trung Quốc đang
rút khỏi nước này. Chỉ trong 3 tháng đầu 2016, tổng giá trị ngoại tệ mà Trung
Quốc mua lại các công ty nước ngoài là 73 tỷ USD (so với 6,2 tỷ USD cùng kỳ năm
ngoái).
Đảng Cộng sản Trung
Quốc càng dựa vào chủ nghĩa dân tộc cực đoan và bài ngoại, thì các chính sách của
Tập Cận Bình càng cản trở Bắc Kinh trong việc điều chỉnh mối quan hệ căng thẳng
với các nước láng giềng tại Biển Hoa Đông cũng như Biển Đông. Những bước ngoặt
lớn trong quan hệ Trung-Nhật và Trung-Việt đã làm thay đổi bức tranh địa chính
trị tại hai khu vực trọng yếu này. Trong khi Nhật buộc phải thay đổi hiến pháp
(điều 9) để tái vũ trang, thì Việt Nam buộc phải xoay trục xích lại gần Mỹ,
theo hướng đối tác chiến lược.
Giới hạn của quyền lực
Việt Nam trước đây
không sợ Trung Quốc, dám chống lại khi bị Trung Quốc xâm lược và đô hộ. Người
Việt đã từng thắng, dù người Trung Quốc mạnh hơn nhiều lần, dù thời trước người
Việt không có đồng minh nào làm đối trọng. Đó là sự thật lịch sử. Nhưng khi thắng
trận, các cụ thời trước rất khiêm tốn, không hạ nhục đối phương (không ghi kẻ
thù vào Hiến pháp và không xua đuổi người Hoa). Các cụ còn xin lỗi đối phương để
hòa giải, vì họ là nước lớn. Đó là văn hóa ứng xử khôn ngoan. Nói cách khác, đó
là quyền lực mềm.
Khi Trung Quốc xâm lược
Việt Nam (2/1979), họ đã sử dụng một lực lượng lớn hơn nhiều lần, tấn công trên
toàn tuyến biên giới, trong khi lực lượng cơ động chiến lược tinh nhuệ của Việt
Nam còn ở Campuchia (chưa chuyển quân về kịp thời). Nhưng quân đội Trung Quốc
đã bị tổn thất nặng nề, chủ yếu bởi lực lượng tại chỗ của Việt Nam. Có nhiều lý
do, như địa hình hiểm trở, quân đội Trung Quốc lúc đó còn yếu kém về trang bị
và chiến thuật, ý chí chiến đấu của người Việt Nam lúc đó rất cao, làm giới hạn
quyền lực cứng Trung Quốc.
Trong suốt cuộc chiến
tranh biên giới Việt-Trung, Trung Quốc chỉ thắng một trận lớn đáng kể là trận
Lão Sơn, khi giành giật cao điểm 1509 tại Vị Xuyên (4/1984). Họ thắng chỉ vì có
kẻ phản bội làm nội gián cung cấp kế hoạch tấn công của ta cho địch. Bốn năm sau
(3/1998), Trung Quốc đánh chiếm đảo Gạc Ma (Johnson South Reef). Việt Nam mất Gạc
Ma không phải chỉ vì lực lượng quá chênh lệch (ta chỉ có lính công binh giữ đảo),
mà còn vì “lệnh trên” không cho nổ súng, nên đơn vị giữ đảo đã bị địch tàn sát
(hy sinh 64 chiến sĩ). Thất bại Gạc Ma và Lão Sơn là vết nhục và mối hận đối với
quân đội Việt Nam. Cuốn sách “Vòng tròn Bất tử” (do tướng Lê Mã Lương chủ biên)
không được xuất bản là một món nợ.
Khi chiến tranh Việt
Nam bắt đầu chuyển giai đoạn (1965), tổng thống John Kennedy lưỡng lự trước quyết
định can thiệp quân sự. Nhưng dàn cố vấn của ông gồm những người “tài giỏi và
thông minh nhất nước Mỹ” (the best and the brightest) ủng hộ can thiệp quân sự.
Trong đó có cố vấn an ninh quốc gia McGeorge Bundy và bộ trưởng quốc phòng
Robert McNamara. Chỉ có George Ball (trợ lý Ngoại trưởng) nhìn thấy trước sai lầm
và cố can ngăn tổng thống đừng can thiệp, nhưng họ không nghe. George ball là
người có tầm nhìn.
Trong chiến tranh Việt
Nam, người Mỹ đã triển khai tối đa sức mạnh cứng. Bộ trưởng Quốc phòng McNamara
đã triển khai “hàng rào điện tử” để ngăn chặn quân đội Bắc Việt thâm nhập,
nhưng đã bất lực. Mỹ đã dùng hỏa lực tối đa (kể cả máy bay ném bom B52), tưởng
sẽ bình định được Việt Nam trong vòng 18 tháng, nhưng họ đã nhầm. Chiến tranh
Việt Nam đã làm người Mỹ nhận ra “giới hạn của quyền lực” (limits of power).
Vài tử huyệt của
Trung Quốc
Vấn đề đầu tiên là
“tiền đâu”. Chỉ cần quan sát dòng tiền đi đâu về đâu là biết sức khỏe nền kinh
tế thế nào. Nhiều tiền như Trung Quốc chưa chắc đã khỏe. Thiếu tiền như Việt
Nam hiện nay cũng khốn đốn. Thật là một câu hỏi hóc búa khi Giám đôc World Bank
hỏi thẳng Thủ tướng NTD, “chính phủ ông lấy đâu ra tiền để phát triển nhanh và
bền vững”. Điều bà Victoria Kwakwa không tiện hỏi là “tiền viện trợ đi đằng
nào?”
Thứ nhất, dòng tiền
chạy ra khỏi Trung Quốc đang đe dọa dự trữ ngoại hối. Khoảng 1.400 tỷ USD đã chạy
khỏi Trung Quốc trong 10 năm qua. Riêng năm 2015, khoảng 1.000 tỷ USD đã chạy mất,
làm cạn kiệt dự trữ ngoại hối, gây bất ổn cho nền kinh tế. Nhiều quan chức tham
nhũng và các đại gia làm ăn mờ ám tìm mọi cách trốn thuế và rửa tiền. Hồ sơ
Panama là một quả bom nổ chậm khổng lồ, lớn hơn nhiều so với hồ sơ
“Offshoreleaks” (2013).
Theo tờ Guardian
(1/2014), Liên minh Báo chí Điều tra Quốc tế (ICIJ) đã nắm được hơn 200 GB dữ
liệu tài chính bị rò rỉ liên quan đến các công ty tài chính (Pricewaterhouse Coopers,
Credit Suisse và UBS) đã làm trung gian lập công ty vỏ bọc tại British Virgin
Islands cho các quan chức Trung Quốc. Tài liệu của ICIJ tiết lộ hơn 21.000
khách hàng từ Trung Quốc đại lục và Hồng Kông đã lợi dụng các tài khoản để trốn
thuế ở BVI. Với 11,5 triệu tài liệu nằm trong 2,6 terabyte dữ liệu về Mossack
Fonseca, nếu được lần lượt công bố thì chưa thể hình dung hệ quả sẽ thế nào.
Trong khi Thủ tướng Iceland vừa tuyên bố từ chức, thì nhiều người khác có liên
can chắc vẫn đang nín thở chờ, hay nghĩ cách đối phó.
Theo tờ New York
Times (10/2012) công ty tư vấn luật của con gái ông Ôn Gia Bảo, tên là Lily
Chang, đã được JPMorgan, trả 1,8 triệu USD… Tài liệu của ICIJ cho biết mối liên
hệ giữa cô Chang và công ty tư vấn Fullmark Consultants được lập năm 2004 ở BVI
dưới tên chồng của Chang là Liu Chunhang, tồn tại đến năm 2006 trước khi anh
này chuyển đi làm cho một ngân hàng ở Trung Quốc. Quyền sở hữu Fullmark
Consultants khi đó được chuyển sang cho Zhang Yuhong, một người bạn của gia
đình Ôn Gia Bảo. Tờ New York Times nói rằng Zhang Yuhong có liên hệ tới các hoạt
động làm ăn của gia đình Thủ tướng Ôn Gia Bảo, và cáo buộc gia đình ông Ôn
Gia Bảo đã tích lũy tài sản lên tới 2,7 tỷ USD trong thời gian ông cầm
quyền. ICIJ cũng tiết lộ con trai ông Ôn Gia Bảo là Ôn Vân Tùng đã thành lập
công ty Trend Gold Consultants tại BVI dưới sự trợ giúp của Credit Suisse (năm
2006).
Hồ sơ Panama cho biết,
gần một phần ba thương vụ của tập đoàn Mossack Fonseca đến từ văn phòng tại
Hong Kong và Trung Quốc, khiến Trung Quốc trở thành thị trường lớn nhất và Hong
Kong là văn phòng bận rộn nhất của họ. Thật trớ trêu là từ khi cầm quyền
(2012), ông Tập Cận Bình đã phát động chiến dịch chống tham nhũng “đả hổ diệt
ruồi” mạnh mẽ. Hơn 300.000 quan chức Trung Quốc đã bị thanh trừng vì vi phạm luật
chống tham nhũng… Hồ sơ Panama xuất hiện đúng vào lúc gay cấn nhất đối với Tập
Cận Bình.
Theo Hồ sơ Panama,
Mossack Fonseca đã giúp ông Đặng Gia Quý, anh rể ông Tập Cận Bình (chồng của
Tập Kiều Kiều là chị gái ông Tập) lập ba công ty tại Virgin Islands (năm 2009).
Năm 2012, hãng Bloomberg News cũng đã phát hiện các khoản tiền đầu tư lên tới
365 triệu USD của gia đình ông Tập Cận Bình khi còn là phó Chủ tịch Nước. Một
phần của khối tài sản nói trên được nộp vào công ty của ông Đặng Gia Quý.
Ngoài ra, trong Hồ sơ
Panama còn có tên tuổi nhiều người khác như bà Lý Tiểu Lâm, con gái cựu Thủ tướng
Lý Bằng và cô Jasmine Li, cháu gái ông Giả Khánh Lâm, cựu Ủy viên Bộ Chính trị
Đảng CSTrung Quốc. Công ty của bà Lý Tiểu Lâm, tên là Cofic Investments Ltd, có
địa chỉ tại British Virgin Islands, còn cô Jasmine Li đã nhận được một công
ty ở hải ngoại khi còn tuổi vị thành niên. Trong Hồ sơ Panama còn có tên tuổi
các thân hữu của hai đương kim ủy viên Bộ Chính trị Đảng CS Trung Quốc là ông
Trương Cao Lệ và Lưu Vân Sơn.
“Đả hổ diệt ruồi” là
con dao hai lưỡi. Tuy chiến dịch chống tham nhũng quyết liệt của Tập Cận Bình
đã thanh trừng được hơn 300.000 quan chức tham nhũng, nhưng cũng gây ra mâu thuẫn
nội bộ rât sâu sắc, làm xã hội hoảng loạn (như thời cách mạng văn hóa) và làm bộ
máy công quyền gần như tê liệt, với những tin đồn dai dẳng về nguy cơ đảo chính
và ám sát. Vụ Lệnh Hoàn Thành (anh của Lệnh Kế Hoạch đang bị giam) chạy sang Mỹ,
đem theo nhiều tài liệu tối mật (nghe nói còn quan trọng hơn cả vụ Vương Lập
Quân) là một quả bom nổ chậm đang làm đau đầu Tập Cận Bình và Vương Kỳ Sơn. Vụ
Panama papers làm cho Tập Cận Bình và Vương Kỳ Sơn còn đau đầu hơn nhiều (như mất
chính danh). Trong khi các đối thủ chính trị trong nước có thể lợi dụng để phản
công, thì các chính phủ nước ngoài có thể tìm cách khống chế Mossack Fonseca, một
khi họ muốn trừng phạt kinh tế Trung Quốc. Trong thế giới toàn cầu hóa, các nhà
độc tài (như Tập hay Putin) không ai an toàn tuyệt đối.
Thứ hai, kinh tế suy
thoái dẫn đến phá giá đồng tiền, chứng khoán đổ vỡ, nguy cơ nợ xấu và vỡ bong
bóng bất động sản, thất nghiệp và biểu tình tăng nhanh (năm 2015 có 28 triệu
công nhân thất nghiệp và 2.700 vụ đình công). Trong khi người nghèo “di cư ngược”
về nông thôn, thì người giàu di cư ra nước ngoài một cách ồ ạt. Người ta nói chứng
khoán đổ vỡ là một cuộc ‘tàn sát tầng lớp trung lưu”, làm dòng người chạy khỏi
Trung Quốc ngày càng lớn. Nói cách khác, đây là hiện tượng dân chúng “bỏ phiếu
bằng chân”.
Thứ ba, phong trào
“thoát Trung” ngày càng rõ (tại Hong Kong, Đài Loan), trong khi phong trào li
khai (có thể kèm theo cả khủng bố) ngày càng gia tăng (tại Tân Cương, Tây Tạng).
Dư luận Hông Kong ngày càng bất bình về chính sách của Bắc Kinh, không tôn trọng
những cam kết về quyền tự do dân chủ cho Hồng Kong, là nguyên nhân chính làm nổ
ra phong trào biểu tình “bất tuân dân sự” (năm 2014). Tại Đài Loan, việc Đảng đối
lập Dân Tiến bất ngờ thắng cử và bà Thái Anh Văn lên làm ổng thống (1/2016) đã
làm Bắc Kinh đau đầu.
Thứ tư, ô nhiễm môi
trường và thực phẩm nhiễm độc ngày càng nặng, tới mức báo động, không những làm
chất lượng cuộc sống của người dân Trung Quốc ngày càng bất ổn, mà còn làm cho
hình ảnh của Trung Quốc ngày càng xấu xí. Một xã hội bất an và chất lượng cuộc
sống bất ổn, trong khi tự do dân chủ và nhân quyền bị bóp nghẹt, là một xã hội
tụt hậu. Trong khi đó, bóng ma Thiên An Môn và oan hồn của những người dân tập
Pháp Luân Công bị sát hại, đang chờ đòi mạng, như một quả bom nổ chậm chưa được
tháo ngòi.
Thứ năm, xung đột tại
Biển Đông và Biển Hoa Đông do thái độ ngày càng hung hăng của Trung Quốc đã buộc
Việt Nam phải xoay trục xích lại gần Mỹ như đối tác chiến lược (trên thực tế),
và buộc Nhật phải thay đổi hiến pháp để tái vũ trang nhằm tự vệ và bảo vệ đồng
minh tại khu vực (Biển Đông). Trước mối đe dọa của Trung Quốc, vai trò của Nhật
tại khu vực Đông Á ngày càng lớn. Cùng với chính sách “xoay trục” của Mỹ và
TPP, những thay đổi địa chính trị tại khu vực đang làm cho Trung Quốc ngày càng
bị cô lập.
Thay cho lời kết
Khi Nhật đứng trên đỉnh
cao quyền lực (trước khủng hoảng 1997) ai cũng lo “Nhật mua cả thế giới”. Nhật
cũng bị suy sụp vì khủng hoảng, thì Trung Quốc không phải ngoại lệ. Nếu sức mạnh
chỉ dựa trên quyền lực cứng, thì nó chỉ nhất thời. Muốn phát triển bền vững, Trung
Quốc phải đổi mới thể chế, cả kinh tế lẫn chính trị. Trung Quốc tăng cường kiểm
soát và trấn áp các quyền tự do dân chủ (bên trong) và hung hăng với bên ngoài,
không phản ánh sức mạnh đang lên, mà bộc lộ thế yếu đi xuống, nên lo sợ đối phó
để duy trì nguyên trạng.
Để đối phó với mối đe
dọa của Trung Quốc, các nước ASEAN phải đoàn kết. Các nước có tranh chấp lãnh hải
ở Biển Đông như Việt Nam, Philippines, Indonesia, Malaysia, Brunei, cần ngồi lại
với nhau để giải quyết tranh chấp, không bị phân hóa, để có tiếng nói chung với
Trung Quốc. Khối “tứ cường” (Mỹ-Nhật-Ấn-Úc) cần củng cố thể chế và phối hợp chặt
chẽ trong vai trò an ninh khu vực, bao gồm tuần tra chung và giúp các nước
ASEAN (đặc biệt là Philippines và Việt Nam) tăng cường khả năng phòng thủ, thông
qua khuôn khổ Đối tác Chiến lược Mỹ-ASEAN, TPP và Tầm nhìn Đông Á. Cần dựa trên
các khuôn khổ hợp tác an ninh (cả cũ và mới), để tăng cường hợp tác quân sự,
chia sẻ thông tin tình báo, phối hợp tập trận và tuần tra chung tại Biển Đông,
để đảm bảo nguyên tắc tự do hàng hải quốc tế.
Theo Thượng nghị Sỹ
John McCain, đã đến lúc Mỹ phải vượt qua những động tác tượng trưng để xúc tiến
“một chiến dịch tự do trên biển” mạnh mẽ, cả về nhịp độ và quy mô chương trình
tuần tra FONOP của các chiến hạm Mỹ tại Biển Đông để thách thức thái độ của Trung
Quốc. Cần tăng cường các hoạt động tập trận và tuần tra chung, thu thập tin tức
tình báo tại khu vực Tây Thái Bình Dương. Trước thay đổi về tương quan lực lượng,
Mỹ phải tập trung tăng cường vị thế quân sự tại khu vực, phù hợp với Báo cáo của
CSIS tại Quốc hội gần đây, bao gồm triển khai thêm các lực lượng không quân, hải
quân, và lục quân tại khu vực này để làm cho các nước đồng minh yên tâm
(Financial Times, April 12, 2016).
Trong chuyến thăm Việt
Nam sắp tới (5/2016) hy vọng Tổng thống Obama có tiếng nói chung với TNS John
McCain, để chấm dứt “tiếng kèn ngập ngừng” trong trò chơi “mèo vờn chuột” ở Biển
Đông. Đối tác chiến lược Mỹ-Việt phụ thuộc vào cách thức chính quyền Obama (hay
chính quyền tiếp theo) triển khai chính sách “tái cân bằng” để ngăn chặn Trung
Quốc, cũng như thái độ hợp tác thực sự của dàn lãnh đạo mới tại Hà Nội.
Bauxite Việt Nam
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét