Vice President Lyndon B Johnson meets Ngo Dinh Nhu at Gia Long Palace, Saigon.
Câu chuyện xuay quanh câu hỏi "liệu
ông Nhu có liên lạc với miền Bắc không?" điều mà thông tin nhiều nhất mà
chúng ta có được mấy chục năm qua là tin đồn "ông Nhu đi gặp ông Phạm Hùng
ở Tánh Linh" đâu đó trong năm 1963. Cuốn sách "Poland and Vietnam,
1963:New Evidence on Secret Communist Diplomacy and the "Maneli
Affair"" được Gs Sử học Margaret K. Gnoinska viết dựa trên các tài liệu
giải mật của Ba Lan. Thấy hay, tôi mày mò phỏng dịch lại ra tiếng Việt để bà
con ta đọc cho biết một phần nào về sự thực này .
*
Liệu một cơ hội để
mang lại hòa bình cho Việt Nam đã bị bỏ lỡ vào năm 1963?
Đó là một câu hỏi
“bâng khuâng” mà Gs Sử học Margaret K. Gnoinska tự hỏi trong cuốn sách của bà
có tên là Ba Lan và Việt Nam, 1963: Chứng Cớ Mới về Ngoại Giao Bí Mật Cộng Sản
và “Vụ Maneli” (Poland and Vietnam, 1963: New Evidence on Secret Communist
Diplomacy and the "Maneli Affair") dựa trên các tài liệu giải mật của
Ba Lan thời đó.
Cuốn sách xuay quanh:
1) đề xuất “Trung lập
hóa Việt Nam” và
2) vấn đề liệu ông
Nhu có hay không có liên lạc với miền Bắc về đề xuất này thông qua trung gian của
ông Mieczysław Maneli, Trưởng đại diện của Ba Lan trong Ủy Ban Kiểm Soát Đình
Chiến (ICC) vào thời gian trước đảo chánh 1.11.1963.
Với người Việt miền
Nam chúng ta hồi ấy và cho đến nay thường chỉ nghe đến tin đồn là ông Nhu có đi
Tánh Linh thuộc tỉnh Phước Tuy giả đi săn để gặp ai đó đại diện của miền Bắc Cộng
sản. Sau này được vài nhân vật kề cạnh hai ông Diệm Nhu chứng thực rằng ông Nhu
có đi Tánh Linh nhưng không biết gặp ai ở đó trong khi tin xầm xì rằng đó là
ông Phạm Hùng (Ủy viên Bộ Chính Trị Trưởng ban Thống nhất Trung ương Đảng từ
năm 1958 đến 1966)
Trước khi đi vào bàn
luận hai vấn đề: Trung lập hóa Việt Nam (cả hai miền) và vấn đề ông Nhu liên lạc
với miền Bắc, thiết nghĩ chúng ta nên dạo sơ qua về bối cảnh chính trị, quân sự
trong thời gia đó (từ Tuyên Cáo Caravelle ngày 26-4-1960 đến 1.11.1963 ngày Đệ
nhất Cộng Hòa bị khai tử với cái chết đau thương của hai anh em Diệm Nhu)
Bối cảnh Thế giới:
- Sự thành hình hai
khối Cộng Sản và Tự Do sau Thế Chiến II một bên là Liên Sô đứng đầu, một bên là
Hòa Kỳ làm thủ lãnh
- Chiến Tranh Lạnh đã
thành hình và đang tiếp diễn
- Xung đột ý thức hệ
Sô-Trung, Liên Sô đứng đầu là Khrushchev chủ trương hòa hoãn sống chung hòa
bình, Trung Cộng đứng đầu là Mao Trạch Đông xem lý thuyết nòng cốt của chủ
nghĩa Marx-Lênin về xung đột vũ trang không tránh khỏi giữa chủ nghĩa tư bản và
chủ nghĩa xã hội là chủ đạo.
- Mỹ đã vào miền Nam
thế chỗ cho Pháp từ sau 1954, đến tháng 12/1961 đã có 3200 và đến cuối 1962 lên
đến con số 12000 cố vấn Mỹ ở miền Nam để đào tạo, trang bị xây dựng quân đội và
hoàn thiện chính phủ Ngô Đình Diệm nhằm ngăn chận Cộng sản bành trướng.
Bối cảnh miền Bắc:
Phe chủ chiến trỗi dậy
- Sau 1954, điều khoản
Tổng tuyển cử năm 1956 tới hạn nhưng không được thi hành vì phía VNCH không đồng
ý.
- Chịu ảnh hưởng bởi
sự xung đột ý thức hệ Trung-Sô, hai khuynh hướng chính trị nỗi lên: một phe chủ
hòa tạm chấp nhận hai miền chia cắt (sống chung hòa bình theo hướng Liên Sô) và
một phe chủ chiến theo đường lối Trung Cộng do Tổng Bí Thư Lê Duẫn đứng đầu dứt
khoát tiến hành vũ trang nỗi dậy chiếm lấy miền Nam. Sau vụ Xét Lại Chống Đảng
(1965), phe Lê Duẩn ngã hẳn vào vòng tay của Mao Trạch Đông (1966)
- Tháng 9 năm 1963,
Lê Đức Thọ, Trưởng ban Tổ chức Trung ương, đăng một bài báo trên Báo Nhân Dân
nói rằng một số đảng viên bị ảnh hưởng của "chủ nghĩa xét lại" vì thế
nghi ngờ chiến lược thống nhất đất nước của đảng.
- Tại Hội nghị Trung
ương lần thứ IX (tháng 12/1963), Lê Duẩn, Lê Đức Thọ và Phạm Hùng đã phê phán
chủ trương chung sống hòa bình và hội nghị kết thúc với nghị quyết xác định lập
trường đứng về phía Trung Quốc lên án "chủ nghĩa xét lại
Khrushchyov", đẩy mạnh công cuộc đấu tranh bằng vũ lực ở miền Nam.
Bối cảnh ở Mỹ: Mỹ xem
Việt Nam là gánh nặng
- Suốt thời gian làm
Tổng Thống Mỹ, TT Eisenhower luôn tích cực hổ trợ cho chính phủ Diệm, tích cực
ngăn Cộng sản và là cha đẻ của thuyết Domino
- John F. Kennedy lên
thay TT Eisenhower mãn nhiệm kỳ ngày 20-01-1961.
Kennedy chủ trương lập
lại hòa bình, dứt khoát không đưa quân chiến đấu vào miền Nam ngoại trừ các cố
vấn mà con số không quá 16000 [1]
- Năm 1963, chính phủ
Kennedy phải giải quyết nhiều cuộc khủng hoảng quan trọng là Phong trào Dân
Quyên lãnh đạo bởi TS Martin Luther King, vụ Vịnh Con Heo Cuba, vụ Tên lửa của
Liên Sô đóng ở Cuba, vụ Bức tường Bá Linh được Đông Đức xây lên (sau khi khối
CS không buộc được Mỹ và phe Tự Do rút đi) và tiếp tục đối phó với Chiến Tranh
Lạnh.
- Các chính phủ Mỹ đều
cố tránh sự can thiệp trực tiếp của Trung Cộng.
Bối cảnh ở miền Nam
Việt Nam: tình hình bất ổn
- Tình hình chính trị
bắt đầu tệ với Tuyên Cáo Caravelle ngày 26-4-1960 đòi TT Ngô Đình Diệm phải thực
thi dân chủ, chấm dứt gia đình trị và những đề nghị cải cách tương đối khiêm tốn.
- Ngày 1/11/1960,
nhóm Vương Văn Đông, Nguyễn Triệu Hồng, Nguyễn Chánh Thi, Hoàng Cơ Thụy và Phan
Quang Đán đảo chính nhưng thất bại.
- Mặt trận Dân tộc Giải
phóng Miền Nam ra đời ngày 20 tháng 12 năm 1960
- Ngày 27.2.1962, hai
phi công Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử dội bom Dinh Độc lập
- Khủng hoảng Phật
Giáo bắt đầu ngày 8/5/1963 và trở nên đáng kể trong tháng 7 tháng 8
- Tương quan lực lượng
giữa quân đội VNCH và quân Giải Phóng là “cân bằng lực lượng. Họ thừa nhận bị
đánh bại, nhưng họ vẫn cho rằng họ kiểm soát 75 phần trăm của các lãnh thổ và
50 phần trăm dân số [Tài liệu số 16: Công điện giải mật]”
- Đầu tháng 6/1963,
TT Kennedy đột ngột triệu hồi Đại sứ Mỹ Fredrik Nolting, người đã có cảm tình với
chế độ Sài Gòn, và thay thế ông là Đại sứ Henry Cabot Lodge là người mà nhiều
tài liệu cho thấy rất kình chống với Diệm (và Nhu)
- Ngày 11/06/1963 Thượng
Tọa Thích Quãng Đức tự thiêu
- Tại Mỹ một số đại
diện dân cử lên tiếng kêu gọi Mỹ rút lui.
- Chính quyền Mỹ đòi
hỏi ông Diệm phải thay đổi và loại bỏ Nhu. Diệm từ chối.
- Chính quyền Mỹ thay
vì rút lui dần đã tìm cách thay thế chính phủ Diệm bằng một chính quyền phục
tùng Mỹ nhiều hơn [2] dẫn đến cái chết của hai anh em Diệm Nhu
- Ngày 11/11/1963,
nhóm Tướng lãnh đứng đầu là Dương Văn Minh đảo chánh thành công, hai anh em Diệm
Nhu bị giết, nền Đệ Nhất Cộng Hòa cáo chung.
Chuyện thứ nhất: Ý tưởng
trung lập hóa Việt Nam
Ý tưởng trung lập hóa
Việt Nam đã được đề cập bởi Ba Lan vào đầu năm 1963 khi Ngoại trưởng Ba Lan
Adam Rapacki gặp nhà lãnh đạo Ấn Độ Jawaharlal Nehru trong chuyến thăm Ấn Độ từ
20 đến 22 tháng Giêng
Sau đó ý tưởng này
cũng đã được chia sẽ với Đại Sứ Mỹ tại Ấn Độ là John Kenneth Galbraith. Phản ứng
của Galbraith là tích cưc. Ông báo cáo về Bộ Ngoại Giao nhưng bị bỏ qua. TT
Kennedy kịp thời thấy báo cáo kêu ông tiếp tục thăm dò nhưng Rapacki đã rời Ấn
Độ nên không gì xảy ra tiếp theo đó. Ý tưởng Trung lập hóa Việt Nam sau đó được
bàn bạc giữa Ba Lan với lãnh đạo Liên Sô và họ cũng đồng ý.
Mieczysław Maneli Trưởng
đoàn Đại diện của Ba Lan trong Ủy Ban Kiểm Soát Đình Chiến là người mang nhiều
thông tin về việc giải pháp Trung lập hóa Việt Nam. Trong những tháng của đầu
năm 1963, Maneli trong một số công điện mật đã “mô tả các cuộc thảo luận chung
về kế hoạch cho tương lai của Bắc Việt, thường nhấn mạnh mong muốn của Hà Nội
là thống nhất đất nước và loại bỏ quân đội Hoa Kỳ, cũng như một số cuộc thảo luận
mơ hồ về trung lập hóa miền Nam Việt Nam theo kiểu Lào” trong nhiều lần gặp Thủ
Tướng Phạm Văn Đồng, Bộ Trưởng Ngoại Giao Xuân Thủy và Hà Văn Lâu Trưởng Ban Thống
Nhất của Đảng. Ông Xuân Thủy cũng muốn bắt đầu bằng trao đổi văn hóa và kinh tế
(đổi than lấy gạo) trước khi có một giải pháp chính trị.
Các điều trên cho thấy
cho đến lúc này ý tưởng trung lập hóa miền Nam là chưa đến tai ông Nhu.
Sự kiện ông Hồ Chí
Minh từ Hà Nội gửi cành đào cho ông Diệm vào dịp Tết là có thật (có lẽ Maneli
mang dùm vào) tuy nhiên có kèm theo đề nghị giao thương không thì không tài liệu
nào khẳng định. Nhưng đề nghị giao thương văn hóa và kinh tế như Maneli kể trên
đây cho thấy các lãnh đạo miền Bắc cũng rất quan tâm đến việc “trung lập hóa”
miền Nam.
Tuy nhiên, lãnh đạo
miền Bắc muốn “trung lập hóa” miền Nam phải nằm trong lợi ích của họ, nghĩa là
quân đội nước ngoài phải được rút hết, miền Nam không được gia nhập bất cứ liên
minh quân sự - hai điều mà nếu “trung lập hóa” cả miền Bắc thì miền Bắc không
có gì phải lo. Việc “trung lập hóa” như họ muốn hóa ra cuối cùng là “chính phủ
này sẽ biến thành một nước xã hội chủ nghĩa bằng con đường hòa bình, và chứ
không bằng phương tiện quân sự.”
Trung lập hóa miền
Nam như thế sẽ khó được lãnh đạo VNCH chấp nhận.
Vì sao Mỹ không thấy
giải pháp “trung lập hóa” miền Nam này là thuận lợi cho họ để rút đi từ 1963
hay sau đó khoảng một năm, tránh cho dân tộc chúng ta phải chịu đau thương mất
mát thêm 12 năm bom đạn và họ phải mất hơn năm mươi ngàn sinh mạng và hàng trăm
tỷ đô la chưa kể hàng trăm tỷ khác để lo cho các vấn đề của cựu chiến binh. Có
gì khác về kết quả cho người Mỹ với giải pháp “Trung lập hóa” (giả hiệu) năm
1963 với cách (Việt Nam hóa chiến tranh) mà đã bỏ rơi VNCH năm 1973).
Làm sao trung lập khi
phe chủ chiến miền Bắc quyết tâm dùng vũ lực, “đã lên kế hoạch tổ chức một đội
quân 500 ngàn người ở miền Nam năm 1965. Các chi phí bảo dưỡng được trả bởi người
Trung Quốc, và phần còn lại đến từ các nguồn trong nước” [Tài liệu số 16: Công
điện giải mật]. Làm sao trung lập khi Trung cộng chỉ muốn hai miền Việt Nam
đánh nhau, hoặc nữa hòa bình nữa chiến tranh để thành phên dậu an toàn cho họ
yên tâm mà phát triển đất nước của họ. Liệu lãnh đạo chủ chiến miền Bắc có nhìn
thấy gì còn cao hơn lý tưởng chủ nghĩa xã hội của họ?
Trung lập theo kiểu
Lào ký kết trong Hiệp Định Geneva năm 1962, quân Bắc Việt chẳng những không rút
đi còn tăng cường thêm – suy ra vấn đề cực kỳ phức tạp chứ không đơn giản là
rút quân, bắt tay hát bài ca chiến thắng. Ngay Hiệp Định Geneva năm 1954, bao
nhiêu các bộ Việt Minh ở lại miền Nam trong đó có ông Lê Duẫn. Hiệp định là một
đàng, ý đồ là một nẽo.
Theo tôi, nếu có xảy
ra một hội nghị Geneva hay ở đâu đó để Trung lập hóa miền Nam thì hội nghị đó sẽ
kéo dài rất lâu, vừa đánh vừa đàm, Mỹ muốn rút thì giá nào cũng rút miễn là
“rút lui trong danh dự” mà họ cũng chả cần danh dự được hiểu theo cách nào. Hội
nghị cũng sẽ bị bàn tay lông lá của các nước “anh em” không theo ý chúng là
không xong. Ngày nay bàn tay chúng không thấy lông lá vì chúng đeo găng tay bằng
nhung.
Tóm lại, “Trung lập
hóa miền Nam hay cả Việt Nam hay cả Đông Dương” chỉ là chuyện trong mơ. Khi nào
mình mạnh cả về quân sự lẫn kinh tế và thiên thời địa lợi như Thụy Sĩ thì sự
“trung lập” là Trung lập kiểu Thụy Sĩ thì lúc ấy là điều vạn phúc cho Dân Tộc
Nếu “Trung Lập” kiểu
Lào chỉ là thứ đầu hàng để Mỹ rút quân, để hòa bình lập lại trong một nước xã hội
chủ nghĩa không còn tiếng súng nhưng bất kể hậu quả thế nào thì đúng là một cơ
hội hòa bình đã bị bỏ lỡ. Nước Việt Nam lúc ấy sẽ theo khuôn mẫu của Tầu, của
Triều Tiên và sẽ ra sao? Lào và Campuchea sẽ thành nước gì?
Chuyện thứ hai: liệu
ông Nhu có liên lạc với miền Bắc không?
Theo tài liệu được giải
mã, Maneli thừa nhận đã gặp Nhu hai lần, một lần công khai vào ngày 25 tháng
Tám và một lần bí mật vào ngày 02 tháng Chín năm 1963
Tuy nhiên, trong cuốn
sách có đoạn "Vào mùa xuân năm 1963, tôi đã bí mật được Tổng thống Ngô
Đình Diệm và em trai của ông là Ngô Đình Nhu, thông qua Roger Lalouette, Đại sứ
Pháp ở Sài Gòn, tiếp cận với Chính phủ Hà Nội để tìm hiểu khả năng cho một giải
pháp hòa bình của cuộc chiến", có nghĩa là Diệm và Nhu cũng đã muốn tìm giải
pháp Hòa Bình thông qua Đại sứ Pháp, có thể Nhu chỉ nhờ ông này và ông này nhờ
lại Maneli. Cái logic cho thấy nếu nhờ được Maneli thì việc gì phải nhờ qua Đại
Sứ Pháp.
Lần thứ nhất ngày 25
tháng Tám, Bộ Ngoại Giao VNCH có một buổi tiếp tân công khai trong đó “Đại Sứ Ý
Orlandi và đại diện Vatican, Đức ông Salvatore d'Astata, sắp xếp cuộc họp [cho
Nhu gặp Maneli]”
Ngày 29 tháng 8 năm
1963 De Gaulle kêu gọi công khai cho giải pháp Trung lập hóa cả hai miền Việt
Nam (đương nhiên là có chuyện rút quân đội nước ngoài ra khỏi Việt Nam). Ở đây
người ta tự hỏi sao có chuyện De Gaulle tuyên bố giải pháp Trung lập bốn ngày
sau khi Maneli gặp Nhu ở buổi tiếp tân?
Lần gặp thứ hai của
Maneli với Nhu là ngày 2 tháng 9, 1963 mà thư mời đến tay Maneli vào lúc 2 giờ
sáng ? sao gấp gáp vậy. Nhưng nội dung lại không có gì quan trọng. Phải chăng
“đấy là một nỗ lực của Nhu để thấu cáy Hoa Kỳ khi Hoa Kỳ ngày càng bực tức với
sự bất lực hoặc sự không sẵn sàng của chế độ Diệm nhằm chống lại phe đối lập cộng
sản trong nước.”
Dầu về mặt công khai,
Maneli chỉ gặp Nhu hai lần nhưng Maneli đã “gặp Đại sứ Pháp Lalouette nhiều lần
hơn so với bất kỳ Đại sứ phương Tây nào khác ở Sài Gòn” và Nhu lại nói chuyện
[nhiều lần?] với Lalouette – có thể Maneli cũng đã nhiều lần khác đã nói chuyện
với Nhu qua trung gian của Lalouette. Bằng cớ là tuyên bố của Degaulle xảy ra
chỉ 4 ngày sau cuộc gặp Maneli-Nhu lần thứ nhất, một tuyên bố chính trị không
thể khơi khơi ngẫu hứng mà phải qua nhiều dò ý, tham khảo, tính toán.
Theo tôi việc ông Nhu
tìm cách “nói chuyện” với bên kia là có thật và có tính toán. Tôi cũng tin rằng
hai ông Diệm Nhu và ít ra một vài lãnh đạo phía Bắc thuộc phe “sống chung hòa
bình” cũng muốn tìm một giải pháp chính trị cho Việt Nam, hoặc Trung lập hoặc
tiến hành Tổng tuyển cử theo Hiệp Định Geneva để chấm dứt chiến tranh.
Tôi nghiêng về vế thứ
hai là Tổng tuyển cử vì có lẽ ông Nhu tin rằng VNCH nay đã đủ mạnh để buộc có một
Tổng tuyển cử tự do và có giám sát quốc tế, điều mà VNDCCH đã từ chối áp dụng
và do đó tạo một trong các cớ chính đáng để miền Nam không thi hành Hiệp định
Geneva. Thực chất, nếu Tổng tuyển Cử xảy ra vào năm 1956 thì 80% dân sẽ bầu cho
ông Hồ Chí Minh (“And US President Dwight Eisenhower admits, “I have never
talked or corresponded with a person knowledgeable in Indochinese affairs who
did not agree that had elections been held as of the time of the fighting, a
possible 80 per cent of the population would have voted for the communist Ho
Chi Minh as their leader.” [3]).
Tôi tin rằng vào khoảng
từ đầu năm 1963 khi ý tưởng “trung lập hóa” thành hình và suốt mấy tháng sau
đó, đặc biệt là vào tháng 9/1963, đã được trao đổi hay được truyến dẫn giữa Ba
Lan, Liên Sô, Pháp, VNDCCH và VNCH, và cả Mỹ ở các mức dộ khác nhau. Tháng
9/1963 Lê Đức Thọ có bài viết báo trên Báo Nhân Dân nói rằng một số đảng viên bị
ảnh hưởng của "chủ nghĩa xét lại" vì thế nghi ngờ chiến lược thống nhất
đất nước của đảng. Lúc này cuộc tranh chấp giữa hai phe chủ hòa (theo Liên Sô)
và phe chủ chiến (theo Trung Cộng) bắt đầu lộ diện rõ ràng hơn . Điều đó cũng
có thể giải thích vì sao sau đề nghị giao thương Nam Bắc của TT Phạm Văn Đồng
(có thể sau lưng là ông Hồ Chí Minh) không thành hình . Cũng có thể vì Diệm Nhu
bị đảo chánh và bị giết, điều mà sau này nhiều thông tin cho thấy đó là việc
làm của Mỹ với cáo buộc là Diệm Nhu âm mưu bán đứng miền Nam (đó cũng là lý lẽ
mà nhóm tướng lãnh đảo chánh đưa ra để biện minh và chạy tội).
Theo ý kiến chủ quan
của tôi, bất cứ nhà lãnh đạo chính trị nào vì quyền lợi của Dân Tộc đều tìm
cách liên lạc và “nói chuyện” với đối phương trên cơ sở ít nhất là hai bên cùng
có lợi . Chiến tranh là giải pháp cuối cùng cực chẳng đã mới làm . Ý đồ và thủ
đoạn của mỗi bên là chuyện thứ hai kế tiếp sau khi hai bên chịu ngồi chung đàm
phán với nhau. Trách ông Nhu liên lạc với miền Bắc không chứng minh được gì. Hội
đàm Paris là ai chủ động liên lạc và khởi xướng: Mỹ và Bắc Việt . Cuối cùng Mỹ
đã tháo chạy trong “danh dự” bỏ mặc cho miền Nam . Vì sao lại trách ông Nhu? Nếu
như thời thế thuận lợi, một giải pháp chính trị nào đó đã thành hình: Việt Nam
trung lập, Việt Nam một nước hai chế độ hay hình thái nào đó tránh được cho Đất
Nước hơn chục năm nội chiến với giá trả đầy xương máu và tàn phá mất mát, vô
ích hoàn toàn vô ích.
Đọc xong cuốn sách,
tôi cũng “bâng khuâng” như tác giả. Nếu ngày ấy phe chủ hòa lãnh đạo miền Bắc
có lẽ Đất Nước ta đã có một cơ hội, miền Bắc thoát Trung miền Nam thoát Mỹ lợi
dụng mâu thuẩn của hai khối Cộng Sản – Tự Do để xây dựng Đất Nước tránh cảnh
tương tàn gần hai mươi năm. Ít ra tôi cũng có một giấc mơ như thế.Theo ý kiến
chủ quan của tôi, bất cứ nhà lãnh đạo chính trị nào vì quyền lợi của Dân Tộc đều
tìm cách liên lạc và “nói chuyện” với đối phương trên cơ sở ít nhất là hai bên
cùng có lợi. Chiến tranh là giải pháp cuối cùng cực chẳng đã mới làm. Ý đồ và
thủ đoạn của mỗi bên là chuyện thứ hai kế tiếp sau khi hai bên chịu ngồi chung
đàm phán với nhau. Trách ông Nhu liên lạc với miền Bắc không chứng minh được gì.
Hội đàm Paris: ai chủ động liên lạc và khởi xướng: Mỹ và Bắc Việt. Cuối cùng Mỹ
đã tháo chạy trong “danh dự” bỏ mặc cho miền Nam. Vì sao lại trách ông Nhu? Nếu
như thời thế thuận lợi, một giải pháp chính trị nào đó đã thành hình: Việt Nam
trung lập, Việt Nam một nước hai chế độ hay hình thái nào đó tránh được cho Đất
Nước hơn chục năm nội chiến với giá trả đầy xương máu và tàn phá mất mát, vô
ích hoàn toàn vô ích.
Đọc xong cuốn sách,
tôi cũng “bâng khuâng” như tác giả. Nếu ngày ấy phe chủ hòa lãnh đạo miền Bắc
có lẽ Đất Nước ta đã có một cơ hội, miền Bắc thoát Trung miền Nam thoát Mỹ lợi
dụng mâu thuẫn của hai khối Cộng Sản – Tự Do để xây dựng Đất Nước tránh cảnh
tương tàn gần hai mươi năm. Ít ra tôi cũng có một giấc mơ như thế.
Tạ Vân Anh, phế binh
VNCH đang ở Mỹ, đã về hưu, rãnh rỗi đọc sách để hiểu chuyện đời. Thấy cuốn sách
có nhiều thông tin về vụ ông Nhu đi gặp ông Phạm Hùng nên dịch để ai quan tâm đọc
để biết và suy tư với vận mệnh của Dân tộc
PS: Ai muốn có bản dịch
cuốn sách, vui lòng email cho ThangMo247@gmail.com
[1]
https://en.wikipedia.org/wiki/John_F._Kennedy
[2] The Vietnam war,
A Concise International History bởi Mark Atwood Laurence

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét