Biên dịch: Vũ Minh Hải
| Hiệu đính: Nguyễn Thị Nhung
Nguồn: Xiaoming Zhang
(2010). “Deng Xiaoping and China’s Decision to go to War with Vietnam”, Journal
of Cold War Studies, Volume 12, Number 3 (Summer), pp. 3-29
Trong thời kỳ Chiến
tranh Lạnh, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (từ đây viết tắt là Trung Quốc) đã tham
gia hai chiến dịch quân sự lớn – một ở Triều Tiên chống lại Hoa Kỳ từ tháng 10
năm 1950 đến tháng 7 năm 1953, và hai là chiến tranh với Việt Nam năm 1979.
Không may là ở Trung Quốc, cuộc chiến tranh với Việt Nam đã bị lịch sử lãng
quên. Sự kiện này hiếm khi được thảo luận trên phương tiện truyền thông và các
học giả ở Trung Quốc bị cấm nghiên cứu vấn đề này. Đến giữa những năm 1970,
Trung Quốc và Việt Nam vẫn còn là những đồng minh thân cận trong Chiến tranh Lạnh.
Vậy tại sao vào cuối năm 1978 Trung Quốc lại quyết định tiến hành chiến tranh với
Việt Nam?
Những nguồn tư liệu
chính thức từ Trung Quốc đều không đưa ra được câu trả lời thoả đáng cho câu hỏi
này. Lý do ban đầu của Bắc Kinh đưa ra bao gồm “Giấc mộng xưng bá” tại Đông Nam
Á của Hà Nội; hành vi xâm phạm biên giới Trung Quốc và cuộc tấn công sau đó vào
lãnh thổ Trung Quốc; việc Hà Nội ngược đãi cộng đồng người Hoa sống ở Việt Nam;
và quan hệ mật thiết của Việt Nam với Liên Xô vào thời điểm cường quốc này đang
mở rộng ảnh hưởng đến Đông Nam Á.[1] Những nhà quan sát đương thời cũng như một
vài nghiên cứu sau đó cho rằng mục tiêu thật sự của Bắc Kinh là chuyển hướng tập
trung sức mạnh quân sự của Hà Nội khỏi Campuchia và giữ chân lực lượng Việt Nam
ở mặt trận thứ hai.[2] Những nhà quan sát khác lại cho rằng việc Bắc Kinh sử dụng
lực lượng quân đội tấn công Việt Nam là nhằm làm mất uy tín Liên Xô trong vai
trò là một đồng minh đáng tin cậy của Việt Nam, đáp trả lại việc Việt Nam hợp
tác với Liên Xô bao vây Trung Quốc từ phía Đông Nam Á.[3]
Quyết định gây chiến
với Việt Nam của Trung Quốc được hình thành một phần do mối quan hệ xấu đi giữa
Hà Nội với Bắc Kinh, bởi liên minh mới giữa Việt Nam với Liên Xô, và bởi vị thế
bá quyền khu vực của Việt Nam, đồng thời nó cũng nảy sinh từ nỗ lực của Trung
Quốc nhằm nâng cao vị trí chiến lược trên thế giới và đẩy mạnh chương trình cải
cách kinh tế trong nước. Ba sự kiện diễn ra tại Bắc Kinh trong tháng 12 năm
1978 đã có tác động quan trọng đến quyết định chiến tranh của Trung Quốc: Đặng
Tiểu Bình trở lại hàng ngũ lãnh đạo cấp cao tại Hội nghị TW ba Khóa 11 của Đảng
Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ), Bắc Kinh thông qua quyết định đưa cải cách kinh tế
làm ưu tiên hàng đầu của quốc gia, và việc Trung Quốc bình thường hoá quan hệ với
Hoa Kỳ. Đặng được xem là kiến trúc sư trưởng của Trung Quốc về chiến lược quốc
gia trong thời kỳ hậu Mao, đóng vai trò chính trong quyết định tấn công Việt
Nam của Trung Quốc. Các học giả hiện nay cũng thừa nhận vai trò của Đặng trong
quyết định chiến tranh của Trung Quốc, nhưng đưa ra rất nhiều giả thuyết khác
nhau cho quyết định này.
Phân tích của Gerald
Segal năm 1985 cho rằng vận động chính trị trong giới lãnh đạo gần như không
tác động đến quyết định của Trung Quốc, và những bất đồng cấp cao, nếu có, cũng
không ảnh hưởng đến các chiến dịch quân sự của Trung Quốc.[4] King Chen lại đưa
ra ý kiến trái chiều rằng quyết định đã được thực hiện sau “các cuộc tranh luận
liên tục, kéo dài” tại Hội nghị Công tác Trung ương cuối năm 1978, và phong
cách lãnh đạo của Đặng là “yếu tố không thể thiếu khi thuyết phục” Bộ Chính trị
ĐCSTQ – khi đó đang bị chia rẽ sâu sắc – chấp thuận quyết định này.[5] Một
nghiên cứu liên quan gần đây của Andrew Scobell khẳng định các nhà lãnh đạo dân
sự và quân đội Trung Quốc đã chia thành phái ủng hộ và phản đối hành động quân
sự chống Việt Nam và quá trình đưa ra quyết định chiến tranh là một phần của cuộc
đấu tranh giành quyền kế thừa quyền lực trong giai đoạn chính trị hậu Mao của
Trung Quốc.[6]
Nghiên cứu về quyết định
của Trung Quốc tấn công Việt Nam gặp trở ngại do thiếu các tài liệu (chính thức)
của Trung Quốc, nhưng khoảng trống này được bù đắp một phần nhờ số lượng nguồn
tài liệu tiếng Trung (khác) tăng lên, đặc biệt là hồi ký của các quan chức quân
đội cấp cao, cũng như các tài liệu được giải mật của Mỹ.[7] Phần đầu bài viết
này tôi thảo luận về tiến trình một đề xuất của Bộ Tổng tham mưu Quân đội Giải
phóng Nhân dân Trung Quốc (Giải phóng Quân Trung Quốc) về việc sử dụng vũ lực
trong giải quyết tranh chấp biên giới với Việt Nam đã phát triển thành quyết định
phát động một cuộc xâm lược quy mô lớn như thế nào. Sau đó, tôi đi vào nghiên cứu
ảnh hưởng của các yếu tố trong nước và quốc tế đến tư duy chiến lược của các
lãnh đạo Trung Quốc, đặc biệt là Đặng Tiểu Bình, và quá trình hình thành quyết
định chiến tranh.
Những yếu tố này bao
gồm nỗ lực mới của Bắc Kinh nhằm đẩy mạnh cải cách kinh tế và mở cửa ra thế giới,
các chính sách chống Trung Quốc của Việt Nam, việc Việt Nam can thiệp vào
Campuchia, và mối quan hệ liên minh Xô-Việt. Đặng dường như đã tin rằng quan hệ
hợp tác chiến lược Xô-Việt là mối đe doạ đến Trung Quốc. Ông không chỉ hy vọng
rằng quan hệ bình thường hoá với Hoa Kỳ sẽ cải thiện vị trí chiến lược của
Trung Quốc và tạo điều kiện thuận lợi hơn trong cải cách kinh tế với sự hỗ trợ
của Hoa Kỳ; mà ông ta còn trông đợi cuộc tấn công của Trung Quốc vào đồng minh
của Liên Xô sẽ thuyết phục chính phủ Mỹ rằng Hoa Kỳ và Trung Quốc cùng có lợi
ích chung. Thắng lợi chính trị của Đặng ở Hội nghị Trung ương ba của ĐCSTQ đã củng
cố vị trí của Đặng tại Trung Quốc và ngăn cản bất cứ ai muốn thách thức quyết định
của ông ta – một quyết định sau này đã dẫn đến cuộc chiến tranh tốn kém và chết
chóc. Nếu như trước khi đưa quân vào Triều Tiên Trung Quốc đã tiến hành nhiều
cuộc thảo luận, thì ngược lại không hề có tranh cãi nghiêm trọng nào trong giới
lãnh đạo cấp cao ở Bắc Kinh về quyết định chiến tranh với Việt Nam.[8] Tuy
nhiên, quá trình tranh giành quyền lực trong nội bộ lãnh đạo đảng thực sự cũng
có ảnh hưởng đến quyết định này.
Trung Quốc đáp trả
các sự kiện biên giới
Sau chiến thắng của
quân đội Bắc Việt Nam trước Nam Việt Nam năm 1975, các lãnh đạo ĐCSTQ tỏ ra ngày
càng lo lắng về chính sách đối ngoại của Hà Nội. Người Trung Quốc e ngại ảnh hưởng
của Liên Xô tại Đông Dương khi Hà Nội trở lên gần gũi hơn bao giờ hết với
Mátxcơva do nhận viện trợ vật chất và cùng ý thức hệ.[9] Các lãnh đạo Trung Quốc
cũng khó chịu với những nỗ lực của Hà Nội trong việc thiết lập mối quan hệ đặc
biệt với Lào và Campuchia, riêng Campuchia còn chịu áp lực quân sự gia tăng từ
phía Việt Nam.[10] Có lẽ vấn đề quan trọng nhất là Bắc Kinh và Hà Nội đã xung đột
về vấn đề lãnh thổ. Trong quá khứ, Trung Quốc đã vài lần xâm lược Việt Nam nhằm
giành quyền thống trị khu vực nhưng không phải để chiếm giữ lãnh thổ (?). Về phần
mình Việt Nam cho đến thời điểm đó chưa bao giờ thách thức các yêu sách về lãnh
thổ của Trung Quốc (?). Tình hình bắt đầu thay đổi sau năm 1975 khi những tranh
chấp biên giới trở thành vấn đề chính đối với Bộ Tổng tham mưu Giải phóng Quân
Trung Quốc. Giải phóng Quân Trung Quốc đã ra lệnh cho hai tỉnh giáp biên giới
và Bộ chỉ huy quân sự các tỉnh và quân khu đảm bảo ổn định tình hình biên giới.[11]
Mặc dù Bắc Kinh tuyên bố muốn giải quyết tranh chấp biên giới bằng hoà bình
nhưng bạo lực ở biên giới vẫn gia tăng trong năm 1978.
Về phương diện lịch sử,
những tranh chấp lãnh thổ là lý do phổ biến nhất cho chiến tranh giữa các nước.[12]
Tuy nhiên, quyết định của Trung Quốc tấn công Việt Nam được hình thành do nhiều
yếu tố đan xen. Bước đi đầu tiên của Trung Quốc về phía chiến tranh là khi Bộ Tổng
tham mưu Giải phóng Quân đáp trả các sự cố biên giới ngày càng gia tăng giữa
lúc diễn ra những tranh cãi về cộng đồng người Hoa ở Việt Nam giữa năm 1978.
Vào ngày 12 tháng 8, quân đội Việt Nam đã bất ngờ tấn công một đội tuần tra
biên giới của Trung Quốc gần Cửa khẩu Hữu nghị ở tỉnh Quảng Tây. Hai tuần sau
đó cũng tại khu vực này, hơn 200 bộ đội Việt Nam đã chiếm đóng một đỉnh núi bên
phía biên giới Trung Quốc và tăng cường thêm quân trấn giữ tại các cao điểm.[13]
Các quan chức Trung Quốc xác định số lượng xung đột biên giới tăng từ 752 vụ
năm 1977 lên 1.100 vụ năm 1978.[14] Quy mô của các vụ xung đột cũng lan rộng
hơn. Đến trước tháng 8 năm 1978, hầu hết là những vụ đấu súng nhỏ với thương
vong không đáng kể. Tính chất các vụ đụng độ vào tháng 8 tăng lên mức khốc liệt
và chết người, cho thấy có sự tham gia của số lượng lớn quân đội Việt Nam. Từ tất
cả những dấu hiệu trên cho thấy, xung đột biên giới leo thang là yếu tố đầu
tiên thúc đẩy các nhà lãnh đạo Bắc Kinh xem xét phương án sử dụng lực lượng
quân đội chống lại Việt Nam.
Vào tháng 9 năm1978,
Bộ Tổng tham mưu đã tổ chức một cuộc họp tại Bắc Kinh về vấn đề “làm thế nào giải
quyết phần lãnh thổ của chúng ta bị quân đội Việt Nam chiếm đóng”. Phó Tổng
tham mưu trưởng Trương Tài Thiên (Zhang Caiqian) đã chủ trì cuộc họp với các sĩ
quan từ Quân khu Quảng Châu và Côn Minh cũng như Cục tác chiến và Cục tình báo
của Bộ Tổng tham mưu. Ngay từ đầu, Trương đã lưu ý rằng Bộ Tổng tham mưu phải
tư vấn cho các lãnh đạo ĐCSTQ về cách thức đối phó với hành vi ngược đãi Hoa kiều
của Hà Nội cùng những động thái khiêu khích ngày một tăng từ quân đội Việt Nam
và lực lượng an ninh dọc theo biên giới Việt-Trung.[15] Ông ta đã đề cập đến
hàng loạt sự kiện vào mùa hè năm 1978. Vào ngày 8 tháng 7, Tổng cục Chính trị
Quân đội Nhân dân Việt Nam đã ra lệnh cho lực lượng của mình theo đuổi một “chiến
lược tấn công” chống lại Trung Quốc và phát động “cuộc tấn công và phản công
trong và ngoài biên giới”.[16] Hai tuần sau đó, Hội nghị TW 4 của Đảng Cộng sản
Việt Nam (ĐCSVN) đã xác định chủ nghĩa đế quốc Mỹ là “kẻ thù lâu dài” nhưng gọi
Trung Quốc là “kẻ thù trực tiếp, nguy hiểm nhất”, và là một “kẻ thù mới trong
tương lai”. Cùng thời điểm, một quân khu mới được thành lập ở Tây Bắc Việt Nam
dọc theo tỉnh Vân Nam của Trung Quốc.[17] Bộ Tổng tham mưu Giải phóng Quân
Trung Quốc nhận thấy một sự tương quan chặt chẽ giữa tình trạng thù địch mới của
Hà Nội và mức độ căng thẳng biên giới ngày càng gia tăng. Các tài liệu hiện có
mô tả vấn đề biên giới giống như “một phương diện thể hiện sự đối đầu hơn là một
tranh chấp nghiêm trọng”,[18] nhưng đối với Trung Quốc vấn đề biên giới là điểm
kích hoạt cho những tính toán về một cuộc tấn công đối với Việt Nam.[19]
Từ thời điểm thành lập
nước CHND Trung Hoa, các lãnh đạo Trung Quốc đã thể hiện khuynh hướng sử dụng lực
lượng quân sự trong tranh chấp lãnh thổ với các nước khác. Giải phóng Quân Trung
Quốc đã được sử dụng vũ lực để duy trì tuyên bố chủ quyền chống lại Ấn Độ năm
1962 và Liên Xô năm 1969. Bộ Tổng tham mưu Giải phóng Quân Trung Quốc đã tiếp tục
truyền thống này khi đề xuất một chiến dịch quân sự chống lại một trung đoàn
quân Việt Nam đóng ở Trùng Khánh, một huyện biên giới tiếp giáp tỉnh Quảng Tây.
Đề xuất của Bộ Tổng tham mưu được tính toán cẩn thận để tránh khả năng leo
thang, khi điều này có thể đe doạ đến tiến trình cải cách kinh tế của Trung Quốc.
Châu Đức Lễ (Zhou Deli), Tham mưu trưởng quân khu Quảng Châu, sau này kể lại Bộ
Tổng tham mưu tin rằng vị trí cô lập của Trùng Khánh sẽ cho phép quân đội Trung
Quốc chia cắt tiền đồn này của Việt Nam khỏi quân tiếp viện và dễ dàng tiêu diệt
nó. Sau một ngày xem xét kỹ thông tin tình báo về các khả năng Việt Nam đưa
quân vào Campuchia và thảo luận tình hình chung, hầu hết những người tham dự cuộc
họp đều kết luận vấn đề hiện nay với Việt Nam không chỉ là vấn đề biên giới mà
rằng bất cứ hành động quân sự nào cũng phải tạo ra tác động mạnh đến Việt Nam
và tình hình ở Đông Nam Á. Họ đề xuất một cuộc tấn công vào một đơn vị quân đội
thường trực Việt Nam trên một vùng địa lý rộng hơn. Mặc dù không đi đến quyết định
cụ thể nào, hội nghị cũng đã hình thành tinh thần chung cho cuộc chiến mà sau
này Trung Quốc rốt cục đã tiến hành chống lại Việt Nam, liên kết kế hoạch tấn
công với hành động của chính Việt Nam tại Đông Nam Á.[20]
Thật không may, không
có nguồn tài liệu nào của Trung Quốc lý giải Bộ Tổng tham mưu Giải phóng Quân
Trung Quốc đã thay đổi kế hoạch chiến tranh trong các tháng tiếp theo như thế
nào. Rõ ràng, các quan chức tại Bắc Kinh lo ngại các tư lệnh địa phương của Giải
phóng Quân Trung Quốc có thể trở nên hung hăng quá mức khi ứng phó với các diễn
biến biên giới đang ngày càng gia tăng và sẽ gây tổn hại cho kế hoạch chiến
tranh của trung ương. Vào ngày 21 tháng 11, Quân ủy Trung ương của ĐCSTQ đã ra
lệnh cho các tư lệnh quân khu tuân thủ chiến lược chính chống bá quyền Liên Xô
khi xử lý các sự cố biên giới và ra lệnh cho tất cả các đơn vị biên giới ghi nhớ
phương châm “hữu lý, hữu lợi, hữu tiết” (youli, youli, youjie), nghĩa là phù hợp
với khả năng, có lợi và biết cách tiết chế hợp lý, chỉ chiến đấu sau khi quân địch
đã tấn công.[21]
Hai ngày sau đó, Bộ Tổng
tham mưu triệu tập một cuộc họp khác để thảo luận về một kế hoạch chiến tranh mới.
Xem xét đề xuất trước đó, Bộ Tổng tham mưu mở rộng phạm vi và thời gian cuộc
chiến, mục tiêu là tiêu diệt một hoặc hai sư đoàn chính quy của Việt Nam trong
một chiến dịch gần biên giới kéo dài 3 đến 5 ngày.[22] Một số người tham dự tin
rằng tầm với của những chiến dịch này chưa đủ xa bởi vẫn chỉ giới hạn trong một
vùng hẻo lánh và không đe doạ trực tiếp tới Hà Nội. Tuy nhiên, họ không lên tiếng
phản đối mà tuân theo sự đánh giá của chỉ huy cấp cao. Bộ Tổng tham mưu đã ra lệnh
cho Quân khu Quảng Châu và Côn Minh thực hiện chiến dịch và cho phép điều chuyển
lực lượng dự bị chiến lược của Giải phóng Quân Trung Quốc, gồm hai tập đoàn
quân của Quân khu Vũ Hán và Thành Đô, nhằm củng cố cho mặt trận Quảng Tây và Vân
Nam.[23] Sau đó, kế hoạch chiến tranh đã được thay đổi đáng kể để đối phó với
việc Việt Nam đưa quân vào Campuchia. Nhưng thực tế Bộ Tổng tham mưu Giải phóng
Quân Trung Quốc phác thảo một chiến dịch quân sự lớn thậm chí trước cả khi lực
lượng Việt Nam vượt sông Mekong đã cho thấy ý định ban đầu của cuộc chiến ít nhất
là buộc Việt Nam chấp nhận các yêu sách của Trung Quốc về tranh chấp biên giới
và trục xuất Hoa kiều.
Đặng trở lại trung
tâm quyền lực
Quan điểm của các nhà
lãnh đạo Trung Quốc về kế hoạch chiến tranh như thế nào? Một bài phát biểu của
Bí thư Quân ủy Trung ương Cảnh Tiêu (Geng Biao) vào ngày 16/1/1979 đã làm sáng
tỏ suy tính của Bắc Kinh về cách thức đối phó với việc Việt Nam đưa quân vào
Campuchia. Vào tháng 11 năm 1978 Uông Đông Hưng (Wang Dongxing), Phó Chủ tịch
ĐCSTQ, và Tô Chấn Hoa (Su Zhenghua), Chính uỷ thứ nhất của hải quân và Uỷ viên
Bộ chính trị ĐCSTQ đưa ra ý kiến gửi binh sĩ Trung Quốc hoặc một đơn vị hải
quân đến Campuchia. Hứa Thế Hữu (Xu Shiyou), tư lệnh của Quân khu Quảng Châu, đề
nghị được phép tấn công Việt Nam từ Quảng Tây.[24] Cảnh Tiêu thuật lại rằng sau
khi xem xét kỹ lưỡng, các lãnh đạo ĐCSTQ đã phản đối tất cả các đề xuất.[25]
King Chen cho rằng Cảnh Tiêu chắc hẳn biết rõ Giải phóng Quân Trung Quốc đã bố
trí quân đội dọc biên giới Việt Nam, và đã cố tình che dấu kế hoạch quân sự của
Bắc Kinh.[26] Báo cáo của Cảnh Tiêu cũng không tiết lộ vai trò của Đặng Tiểu
Bình trong quá trình ra quyết định vì Đặng đã củng cố quyền lực trong khi ảnh
hưởng chính trị của Uông và Tô suy yếu ở giai đoạn này.[27] Quyết định ban đầu
của Trung Quốc về Việt Nam trùng với thời điểm bắt đầu chu kỳ đấu tranh quyền lực
mới trong nội bộ ĐCSTQ.
Đặng Tiểu Bình, một
nhà lãnh đạo đảng lâu đời và là một chính khách của Trung Quốc, nổi lên trở lại
đấu trường chính trị Trung Quốc vào tháng 7 năm 1977 với vai trò Phó chủ tịch
ĐCSTQ, Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương, Phó Thủ tướng, và Tổng tham mưu trưởng
Giải phóng Quân Trung Quốc. Ban đầu quyền lực của Đặng được khôi phục không đồng
nghĩa với việc ông nắm uy thế áp đảo trong ĐCSTQ. Hoa Quốc Phong, chủ tịch của
cả ĐCSTQ và Quân ủy Trung ương, được sự hậu thuẫn của Uông Đông Hưng, Phó Chủ tịch
ĐCSTQ, vẫn còn kiểm soát Đảng và nhà nước và vẫn tiếp tục thực hiện nhiều ý tưởng
và chính sách của cố lãnh đạo Mao Trạch Đông.[28] Diệp Kiếm Anh (Ye Jianying) vẫn
còn phụ trách Quân ủy Trung ương. Đặng khi vừa trở lại cơ quan cấp cao đã tình
nguyện phụ trách khoa học và giáo dục, lĩnh vực được xem như ít quan trọng hơn
công tác Đảng và quân sự.[29]
Từ tháng 8/1977 đến tháng
12 năm 1978, cuộc đấu tranh quyền lực giữa Hoa và Đặng ngày càng căng thẳng.[30]
Với vị trí Tổng tham mưu trưởng Giải phóng Quân Trung Quốc, Đặng nắm rõ kế hoạch
chiến tranh, nhưng dường như ông ta không chắc chắn liệu tấn công Việt Nam sẽ
nhận được sự ủng hộ của toàn bộ Bộ Chính trị ĐCSTQ hay không. Hơn nữa, Đặng cần
xem xét các mục tiêu Giải phóng Quân Trung Quốc có khả năng đạt được thông qua
hành động quân sự ngoài việc đơn giản là trừng phạt Việt Nam. Trong một chuyến
thăm Singapore vào đầu tháng 11/1978, đáp lại câu hỏi của Thủ tướng Lý Quang Diệu
về việc liệu Trung Quốc sẽ dùng vũ lực tấn công lực lượng quân đội Việt Nam tại
Campuchia hay không, Đặng đã tỏ ra ngần ngại khi trả lời. Có lần, ông nói với
ông Lý rằng Trung Quốc sẽ trừng phạt Việt Nam, nhưng trong lần khác ông chỉ trả
lời “cũng còn tuỳ”.[31]
Cán cân chính trị
nghiêng về phía Đặng ngay sau khi ông trở về Bắc Kinh. Từ ngày 10 tháng 11 đến
ngày 15 tháng 12, Hội nghị công tác trung ương đã diễn ra với sự tham dự của
lãnh đạo các tỉnh, các quân khu, và Trung ương Đảng, chính phủ, và cơ quan quốc
phòng. Chương trình nghị sự ban đầu tập trung vào các vấn đề trong nước – phát
triển nông nghiệp và chính sách kinh tế trong các năm 1979 và 1980 – và không
bao gồm tình hình Đông Dương, trái với khẳng định đã nêu của King Chen.[32] Cuộc
họp đã có một bước ngoặt bất ngờ khi Trần Vân (Chen Yun), một nhà hoạch định
kinh tế kế hoạch cho Mao, phát biểu vào ngày 12 tháng 11 nhấn mạnh họ trước
tiên phải giải quyết các hậu quả để lại của Cách mạng Văn hoá. Chương trình nghị
sự sau đó đã chuyển sang vấn đề phục chức cho các đảng viên cấp cao trước đây bị
truy tố trong Cách mạng Văn hoá và sang hướng chỉ trích liên minh Hoa – Uông vì
tiếp tục theo đuổi chính sách tư tưởng cực tả. Cuộc họp kết thúc với quyết định
triệu tập Hội nghị TW ba của Đại hội Đảng khoá 11, ở đây Trần Vân đã trở thành
Phó Chủ tịch ĐCSTQ, củng cố vị thế chính trị của Đặng Tiểu Bình. Với bầu không
khí chính trị thay đổi ở Bắc Kinh, các quyết định của Đặng dần trở lên có ảnh
hưởng cao tại Trung Quốc.[33]
Một trong những quyết
định quan trọng đầu tiên của Đặng, công bố tại Hội nghị TW ba, là chuyển ưu
tiên quốc gia của Trung Quốc sang hiện đại hoá kinh tế và mở cửa ra thế giới
bên ngoài.[34] Theo chương trình này, Hoa Kỳ đã được xem là nguồn chính để học
tập các ý tưởng và công nghệ tiên tiến, đồng thời là tấm gương thích hợp nhất về
hiện đại hoá. Cựu Thứ trưởng ngoại giao Trung Quốc Zhang Wenjin nhớ lại Đặng
tin rằng nếu Trung Quốc chỉ mở cửa với các nước khác nhưng nói không với Hoa Kỳ
thì chính sách mới sẽ không có hiệu quả.[35] Đến tháng 12 năm 1978, Bắc Kinh đã
mời một số tập đoàn lớn của Hoa Kỳ để giúp đỡ phát triển tài nguyên thiên
nhiên, dầu khí, và các nghành công nghiệp nặng khác ở Trung Quốc. Vấn đề chính
sách đối ngoại không nằm trong chương trình nghị sự của Hội nghị công tác trung
ương hay Hội nghị TW ba, nhưng tình hình chính trị trong nước và mối quan hệ xấu
đi giữa Trung Quốc và Việt Nam (biểu trưng bởi liên minh mới Việt-Xô) thúc đẩy
các nhà lãnh đạo sắp xếp một cuộc họp đặc biệt về vấn đề thiết lập quan hệ ngoại
giao với Hoa Kỳ.[36] Nhân tố Mỹ đóng một vai trò quan trọng trong tư duy chiến
lược của Trung Quốc trong gian đoạn trước khi tiến hành cuộc xâm lược Việt Nam.
Nhân tố Liên Xô
Nghiên cứu của Qiang
Zhai về mối quan hệ của Trung Quốc với Bắc Việt Nam trước tháng 4 năm 1975 lưu
ý rằng nếu như các nhà lãnh đạo Trung Quốc trước đây luôn duy trì mối quan hệ
cá nhân thân thiết với giới chức Việt Nam, thì Đặng ngược lại không có bất cứ sự
“gắn bó cá nhân sâu nặng nào với Việt Nam”. Đến cuối năm 1978, vì cảm thấy bị
xúc phạm quá mức trước những dấu hiệu mà ông ta cho rằng Hà Nội đang thách thức
lợi ích của Bắc Kinh, Đặng đã không “ngần ngại tiến hành một cuộc chiến tranh để
dạy cho Việt Nam một bài học.”[37] Năm 1979, các lãnh đạo Việt Nam cũng đã cáo
buộc Đặng chống lại những lợi ích của Việt Nam ngay cả trong thời kỳ chiến
tranh Việt Nam. Lê Duẩn tuyên bố Đặng đã không chỉ cố gắng thuyết phục miền Bắc
Việt Nam giảm bớt cuộc cách mạng ở miền Nam, mà còn ngăn miền Bắc Việt Nam
không được nhận viện trợ từ Liên Xô, coi đây là điều kiện để Trung Quốc tiếp tục
viện trợ cho Hà Nội.[38]
Tổng cộng Trung Quốc
đã cung cấp cho Hà Nội 20 tỷ đô la viện trợ trong hai thập kỷ, nhiều hơn nguồn
tiếp tế của bất kỳ quốc gia nào khác.[39] Khi chính quyền Việt Nam bắt đầu trục
xuất Hoa kiều ở miền bắc Việt Nam và xâm phạm lãnh thổ Trung Quốc dọc theo biên
giới, nhiều người Trung Quốc đã tức giận trước những hành vi mà họ coi là sự vô
ơn của Hà Nội sau những viện trợ và hy sinh của họ. Trung Quốc đã chứng kiến
một làn sóng giận dữ của công chúng chống lại Việt Nam do bộ máy tuyên truyền
chính thống kích động.[40] Những người từng hỗ trợ những người cộng sản Việt
Nam trong cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ cảm thấy bị phản bội và sẵn sàng “dạy
cho Việt Nam một bài học”. Phó Thủ tướng Lý Tiên Niệm đã mô tả hành động quân sự
của Trung Quốc giống như “một cái tát vào mặt [Việt Nam] để cảnh cáo và trừng
phạt họ.”[41] Đặng Tiểu Bình cũng không phải là ngoại lệ. Ông ta đã tỏ ý khó chịu
với thái độ “vô ơn” của Việt Nam kể từ giữa những năm 1960.[42]
Mặc dù tình trạng thù
địch giữa Trung Quốc và Việt Nam trở nên căng thẳng trong cuối những năm 1970,
Đặng trở nên ngày càng nhạy cảm, thậm chí một lần đã gọi Việt Nam là wangbadan
(một từ mang nghĩa chửi thề -NBT) trước mặt một nhà lãnh đạo nước ngoài.[43]
Như Raymond đã chỉ ra, trong một tình huống mà “ý định thù địch [tồn tại] ở cả
hai bên, sự giận dữ và lòng thù hận [có khả năng] nảy sinh”.[44] Điều mà Đặng
nhìn nhận là “thái độ xấc xược” của Việt Nam, cùng với các xung đột biên giới
leo thang và cuộc di tản đang diễn ra của Hoa kiều, tất cả đã tạo ra “sự giận dữ
và lòng thù hận” ở Bắc Kinh, và thúc đẩy chính phủ cân nhắc đến các phương án
quân sự. Việc sử dụng lực lượng quân sự cũng phù hợp với tư duy chiến lược của
vị lãnh đạo cao nhất này của Trung Quốc.
Sau khi quay lại nắm
quyền lực, quan điểm chính sách đối ngoại của Đặng ban đầu vẫn chịu ảnh hưởng
theo tư duy chiến lược của Mao Trạch Đông, tức là coi công cuộc bành trướng
toàn cầu và lực lượng quân sự của Liên Xô là mối đe dọa chính đối với hòa bình.
Mặc dù Matxcơva đã nỗ lực hòa giải với Trung Quốc trong năm 1977 và 1978, các
nhà lãnh đạo Trung Quốc vẫn từ chối tin tưởng vào Liên Xô vì sự thù địch từ lâu
giữa hai đất nước.[45] Liên Xô tiếp tục tăng cường quân đội mạnh mẽ gần Trung
Quốc và thường xuyên tiến hành tập trận bằng đạn thật mô phỏng xung đột biên giới.[46]
Bắt đầu từ đầu những năm 1970, Mao theo đuổi chiến lược “một đường ngang”
(yitiaoxian – nhất hoành tuyến) trên toàn cầu, tức là một đường phòng thủ chiến
lược chống lại Liên Xô kéo dài từ Nhật Bản sang châu Âu đến Mỹ. Cơ sở chiến lược
“hoành tuyến” của Mao là dựa vào hợp tác chặt chẽ giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ.
Tuy nhiên, Washington đã không hưởng ứng phương pháp này theo cách mà Bắc Kinh
trông chờ. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã kết luận rằng Mỹ vẫn chủ yếu quan
tâm đến chính sách hòa dịu (détente) với Liên Xô.[47]
Nỗi thất vọng của
Trung Quốc tiếp tục trong suốt những năm đầu của nhiệm kỳ tổng thống Jimmy
Carter khi ông chính thức tuyên bố sẽ dành ưu tiên cao hơn cho hoà dịu Xô-Mỹ. Đặng
không thích chính sách cố gắng xoa dịu căng thẳng quốc tế thông qua đàm phán của
Hoa Kỳ. Vào ngày 27 tháng 9 năm 1977, trong cuộc gặp với George H. W. Bush, cựu
giám đốc văn phòng liên lạc của Mỹ tại Bắc Kinh, Đặng đã chỉ trích thỏa thuận
kiểm soát vũ khí hạt nhân Xô-Mỹ vốn không ngăn được Liên Xô đạt được sức mạnh
ngang bằng với Mỹ.[48] Vài tháng sau đó, vị lãnh đạo Trung Quốc nhắc lại những
lời chỉ trích đó với Zbigniew Brzezinski, cố vấn an ninh quốc gia của chính quyền
Carter, khi vị này đến thăm Bắc Kinh tháng 5 năm 1978. Đặng cảnh báo Brzezinski
về ý định của Liên Xô, cho rằng nước này sẽ gây hại cho Mỹ. Lãnh đạo Trung Quốc
đã không tin rằng các thỏa thuận hoặc hợp tác với Liên Xô có thể ngăn chặn nước
này bành trướng. Tuy nhiên, Brzezinski cho rằng chính sách của Trung Quốc chỉ
đơn giản là “nói suông”. Đặng không đồng ý và giải thích rằng Trung Quốc đã làm
mọi điều trong khả năng của mình.[49] Khó có thể khẳng định rằng cuộc trao đổi
này có ảnh hưởng tâm lý tới Đặng hay không, nhưng sau đó ông ta đã thừa nhận
không muốn các nước khác nhận thức Trung Quốc yếu đuối khi đối đầu với liên
minh Xô-Việt.[50] Hành động quân sự của Trung Quốc được dự kiến là nhằm chứng tỏ
rằng Bắc Kinh không chỉ nói miệng nếu Trung Quốc và Hoa Kỳ thống nhất trong việc
chống lại thái độ hung hăng của Liên Xô.[51]
Trong tháng 11, một số
diễn biến phát sinh đã khiến Bắc Kinh càng thêm lo lắng. Đầu tiên, các nhà lãnh
đạo Trung Quốc lo ngại về khả năng bình thường hoá hoặc cải thiện quan hệ giữa
Hoa Kỳ và Việt Nam. Vào ngày 03 tháng 11, Lý Tiên Niệm đã lên tiếng không hài
lòng trong một cuộc trò chuyện với Bộ trưởng Năng lượng Mỹ James Schlesinger,
tuyên bố mối quan hệ gần gũi hơn với Việt Nam sẽ không kéo Việt Nam khỏi Liên
Xô.[52] Trung Quốc tỏ ra nóng lòng muốn đẩy nhanh các cuộc đàm phán với Hoa Kỳ
về việc thiết lập quan hệ ngoại giao và khôi phục các cuộc đàm phán vốn đã bị
đình trệ hồi đầu tháng 7 năm 1978. Thứ hai, tăng cường quan hệ quân sự của Liên
Xô với Việt Nam sau khi ký Hiệp ước Hòa bình và Hữu nghị Xô-Việt vào ngày 3
tháng 11 là tiếng chuông báo động với Bắc Kinh. Trung Quốc cho rằng Liên Xô đã
hậu thuẫn Việt Nam đưa quân vào Campuchia và khuấy động căng thẳng biên giới
phía Nam Trung Quốc.[53] Đối với Trung Quốc, Việt Nam đang trở thành một mối đe
dọa quân sự nghiêm trọng, càng làm sâu sắc hơn mối đe dọa của Liên Xô từ phía Bắc.
Trung Quốc cần tìm cách lập lại thế cân bằng chiến lược thông qua hành động
quân sự chống lại “chủ nghĩa bá quyền khu vực” của Việt Nam.
Ngày 7 tháng 12 Quân ủy
Trung ương đã nhóm họp trong vài giờ và quyết định phát động một cuộc chiến
tranh hạn chế “đánh trả” Việt Nam.[54] Tại cuộc họp một số lo ngại rằng Liên Xô
có thể phản ứng bằng một cuộc tấn công trả đũa từ phía Bắc, đẩy Trung Quốc sa
vào một cuộc chiến tranh hai mặt trận. Phân tích tình báo của Bộ Tổng tham mưu
Giải phóng Quân Trung Quốc chỉ ra rằng Liên Xô sẽ có ba lựa chọn quân sự để đáp
trả cuộc xâm lược này: (1) một cuộc tấn công quy mô lớn bao gồm cả tấn công trực
tiếp vào Bắc Kinh, (2) xúi giục các phần tử dân tộc thiểu số lưu vong có vũ
trang tấn công các vùng xa xôi của Trung Quốc ở Tân Cương và Nội Mông, và (3) sử
dụng các vụ đụng độ nhỏ để kích động căng thẳng biên giới giữa hai nước. Mặc dù
54 sư đoàn của Liên Xô đã được triển khai dọc biên giới với Trung Quốc và Mông
Cổ, Bộ Tổng tham mưu Giải phóng Quân Trung Quốc tính toán rằng hai phần ba
trong những sư đoàn này thiếu quân số và trang bị không đầy đủ, Liên Xô không
có đủ lực lượng để triển khai một cuộc can thiệp quân sự quy mô lớn ở Trung
Quốc. Bất kỳ sự can thiệp nào cũng sẽ buộc Matxcơva không chỉ chuyển một số lượng
lớn quân đội từ Châu Âu, mà còn đặt an ninh quốc gia của Liên Xô vào rủi ro lớn
bởi khả năng đáp trả từ Hoa Kỳ là điều hoàn toàn có thể. Liên Xô không thể tấn
công Trung Quốc từ phía Bắc mà không xem xét đến điều này.[55] Ngày 8 tháng 12
Quân ủy Trung ương đã ra lệnh cho Quân khu Quảng Châu và Côn Minh chuẩn bị sẵn
sàng cho hành động quân sự chống lại Việt Nam trước ngày 10 tháng 1 năm
1979.[56]
***
Ghi chú: Bài viết thể
hiện quan điểm của tác giả, không phải quan điểm của người dịch và BBT
Nghiencuuquocte.net. Do nhiều nguồn tư liệu mà tác giả trích dẫn trong bài là từ
phía Trung Quốc nên tính chính xác và khách quan có thể không được đảm bảo. Tuy
nhiên, trên tinh thần học thuật, tôn trọng tác giả và nhằm giúp bạn đọc hiểu được
quan điểm tuyên truyền nội bộ Trung Quốc về cuộc chiến, chúng tôi dịch nguyên
văn bài viết, bao gồm cả cách diễn đạt, dùng từ. Quyền nhận định và đánh giá nội
dung bài viết thuộc về các độc giả.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét